Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trân trọng cảm ơn Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Hải, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình đã quan tâm, ủng hộ và đánh giá tích cực đối với những nỗ lực hoạt động của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua.
Về ý kiến chất vấn của Đại biểu Quốc hội nêu tại văn bản số 15/PC-CVKH8 ngày 24/10/2014 của Văn phòng Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có ý kiến trả lời như sau:
1. Về biện pháp phát hiện và xử lý việc che giấu các khoản nợ xấu
Xác định việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng đến năm 2015, góp phần thực hiện thành công mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các TCTD, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống đến năm 2020, NHNN đã chủ động xây dựng và trình Bộ Chính trị, Chính phủ phê duyệt Đề án ”Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án ”Thành lập Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC)”. Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt 02 Đề án nêu trên, ngành Ngân hàng đã tổ chức triển khai quyết liệt, khẩn trương các giải pháp để kiểm soát và đẩy lùi nợ xấu.
Trong quá trình xử lý nợ xấu, NHNN đã áp dụng nhiều biện pháp để kiểm soát, phát hiện và xử lý việc che giấu nợ xấu, cụ thể:
1.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để đánh giá đúng thực trạng nợ xấu của hệ thống TCTD, xử lý việc che giấu các khoản nợ xấu
- Ban hành quy định mới về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro: Nhằm giúp hoạt động của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tiến sát hơn với thông lệ quốc tế và phản ánh chính xác hơn chất lượng tín dụng, nợ xấu, NHNN đã ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó, quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro chặt chẽ hơn như: (i) mở rộng phạm vi tài sản phải phân loại bao gồm cả trái phiếu doanh nghiệp, cho vay, tiền gửi liên ngân hàng; (ii) quy định về phân loại nợ, giữ nguyên nhóm nợ chặt chẽ hơn và chỉ được áp dụng đến ngày 30/3/2015; (iii) thực hiện điều chỉnh kết quả phân loại nợ theo kết quả phân loại nợ của Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia. Việc áp dụng Thông tư 02 sẽ giúp đánh giá đúng hơn và minh bạch hơn thực trạng chất lượng tín dụng và nợ xấu của từng TCTD và của hệ thống.
Thực hiện các quy định này góp phần hạn chế việc che giấu nợ xấu của các TCTD và thực trạng chất lượng tín dụng của hệ thống các TCTD được phản ánh lành mạnh và sát thực tế hơn.
- Áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm quy định về phân loại tài sản có và dự phòng rủi ro: Ngày 17/10/2014, Chính phủ ban hành Nghị định 96/2014/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 12/12/2014), theo đó, đối với các hành vi thực hiện phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro không đúng quy định của pháp luật, các TCTD sẽ bị áp dụng mức phạt tiền từ 200-250 triệu, đây là mức phạt tiền cao hơn rất nhiều so với mức phạt từ 2-12 triệu tại Nghị định 202/2004/NĐ-CP trước đây; bên cạnh đó, các TCTD còn phải chịu các biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra.
1.2. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, phát hiện và cảnh báo sai phạm của các TCTD
Năm 2014, NHNN đã tập trung thanh tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành các quy định an toàn hoạt động và chất lượng tài sản, đặc biệt là chấp hành quy định phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, nợ xấu, chất lượng các khoản đầu tư và mức độ tập trung tín dụng; thường xuyên giám sát và nhận diện rủi ro, vi phạm quy định về sở hữu vốn cổ đông, quan hệ của cổ đông với TCTD, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp…
Theo Kế hoạch thanh tra năm 2014, NHNN tiến hành thanh tra pháp nhân đối với 21 đối tượng và thanh tra chuyên đề chất lượng tín dụng đối với 11 đối tượng. Đồng thời, để đánh giá đúng thực trạng chất lượng tín dụng, nợ xấu, NHNN đã yêu cầu 23 TCTD khác thực hiện kiểm toán độc lập chất lượng tín dụng để nắm bắt đầy đủ và chính xác hơn về tình hình nợ xấu và chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Chỉ tính riêng trong 10 tháng đầu năm 2014, NHNN đã tiến hành 797 cuộc thanh tra, 210 cuộc kiểm tra chuyên ngành, trong đó có 21 TCTD được thanh tra pháp nhân, 11 TCTD được thanh tra chuyên đề chất lượng tín dụng và 19 TCTD đã được kiểm toán độc lập về chất lượng tín dụng.
Cùng với việc tăng cường thanh tra, công tác giám sát cũng đã được đổi mới mạnh mẽ, tiến hành thường xuyên và kịp thời. NHNN đã tập trung giám sát chặt chẽ các TCTD trong việc chấp hành các quy định an toàn hoạt động ngân hàng (tỷ lệ an toàn vốn, thanh khoản, nợ xấu, dự phòng...), hiệu quả kinh doanh, hoạt động đầu tư, các khoản phải thu, ủy thác, đầu tư tài chính,.... để có những chỉ đạo xử lý kịp thời. Qua kết quả thanh tra, giám sát tích cực chất lượng tín dụng, NHNN có cơ sở đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện hơn nợ xấu của hệ thống các TCTD.
Qua công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán, NHNN đã phát hiện tồn tại, sai phạm của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó có các sai phạm về phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro như phân loại sai nhóm nợ, chưa chuyển nợ quá hạn kịp thời, trích dự phòng rủi ro, gia hạn nợ chưa đúng quy định... nhằm che giấu nợ xấu. Các hành vi vi phạm về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro phát hiện được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, kể cả buộc phải tái cơ cấu TCTD.
Căn cứ những sai phạm được phát hiện trong 10 tháng đầu năm 2014, NHNN đã ban hành 149 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 145 đơn vị, cá nhân, tổng số tiền xử phạt là 1.425 triệu đồng và 900 USD. Ngoài ra, NHNN còn ban hành 01 Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 500 triệu đồng; 02 Quyết định xử lý sau kiểm tra; 02 Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
2. Về khả năng cho phá sản một số TCTD yếu kém trong quá trình cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng
Phá sản, giải thể các doanh nghiệp yếu kém nói chung và TCTD nói riêng là hiện tượng bình thường trong nền kinh tế thị trường và xảy ra phổ biến ở các nước phát triển trên thế giới. Ở nước ta hiện nay, về mặt pháp lý đã có các quy định phá sản đối với TCTD, cụ thể:
+ Luật Phá sản năm 2014.
+ Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18/1/2010 của Chính phủ cũng quy định việc áp dụng Luật phá sản đối với các TCTD.
+ Thông tư số 07/2013/TT-NHNN ngày 14/3/2013 của NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD, trong đó có quy định về vấn đề phá sản đối với TCTD. Theo đó, trong trường hợp TCTD được kiểm soát đặc biệt sau khi đã áp dụng mọi biện pháp mà không thể phục hồi hoạt động bình thường, NHNN có thể xem xét, tiến hành thủ tục phá sản đối với TCTD đó theo quy định của pháp luật về phá sản.
Căn cứ các quy định trên và xuất phát từ tình hình thực tế, trong thời gian qua, việc tái cơ cấu các TCTD Việt Nam được thực hiện theo đúng các nguyên tắc và giải pháp nêu tại Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” đã được Bộ Chính trị, Chính phủ chấp thuận và Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg như sau:
(i) Chưa áp dụng giải pháp phá sản TCTD theo quy định của Luật Phá sản trong giai đoạn hiện nay để bảo đảm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
(ii) Khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật.
(iii) Không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước. Quá trình chấn chỉnh, củng cố và cơ cấu lại hệ thống các TCTD hạn chế tới mức thấp nhất tổn thất và chi phí của ngân sách nhà nước, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Với thực tế Việt Nam hiện nay, việc phá sản TCTD, đặc biệt là phá sản ngân hàng là vấn đề nhạy cảm, có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế và hệ thống tài chính quốc gia, đặc biệt là người gửi tiền, dẫn đến nguy cơ rút tiền hàng loạt, gây đổ vỡ dây chuyền đối với hệ thống TCTD Việt Nam. Do đó, thời gian qua, trong quá trình triển khai các biện pháp tái cơ cấu các TCTD yếu kém, NHNN đã ưu tiên áp dụng các giải pháp tối thiểu hóa chi phí cho Nhà nước và xã hội như các ngân hàng tự củng cố dưới hình thức kêu gọi các đối tác mới tham gia hoặc tìm kiếm đối tác để thỏa thuận tự nguyện sáp nhập, hợp nhất… Trường hợp không thực hiện được các giải pháp này, NHNN mới can thiệp theo quy định của pháp luật. Trên quan điểm này, đến nay, NHNN chưa phải áp dụng biện pháp phá sản đối với bất kỳ ngân hàng yếu kém nào.
Tuy nhiên, trong thời gian tới, để xử lý triệt để, loại bỏ các TCTD yếu kém ra khỏi hệ thống, trên cơ sở đánh giá tác động việc phá sản TCTD cũng như cân nhắc giữa lợi ích (của Nhà nước, TCTD, người gửi tiền, toàn xã hội), NHNN sẽ nghiên cứu trình Chính phủ cho phép áp dụng phá sản đối với TCTD phi ngân hàng trong trường hợp việc phá sản này không gây ảnh hưởng lớn đến an toàn, ổn định của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Hải. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.