Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Hợp tác nghiên cứu

Bàn về giải pháp tăng trưởng tín dụng năm 2015

13/03/2015 16:39:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Với quyết tâm cao của ngành ngân hàng, lãi suất cho vay bình quân của hệ thống ngân hàng thương mại giảm nhanh từ 18,2% năm 2011, xuống dưới 9% năm 2014. Cùng với việc giảm lãi suất, chính phủ và NHNN có nhiều chính sách tích cực để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, do những bất ổn về kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây, nên tăng trưởng dư nợ tín dụng ngành ngân hàng đạt ở mức khiêm tốn, phản ánh đúng thực trạng sức khỏe của nền kinh tế. Dư nợ tín dụng từ năm 2011 đến 2014 tăng lần lượt là 14,2%, 8,85%, 12,51% và 12%, thấp hơn so với những năm trước đó1.

Nguồn: NHNN

 

Kết thúc năm 2014, phần lớn các chỉ tiêu kinh tế - xã hội lớn đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch, trong đó tăng trưởng GDP đạt 5,98%, vượt chỉ tiêu kế hoạch do quốc hội đề ra. Kết quả tích cực của năm 2014 mở ra nhiều triển vọng tốt cho khơi tăng dư nợ tín dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong năm 2015- năm về đích của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015. Tuy triển vọng của năm 2015 là khả quan, nhưng vẫn còn đó những gam màu tối, những điểm nghẽn trong hoạt động tín dụng, mà nó sẽ là rào cản cho cung ứng vốn tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng kinh tế.

Những thách thức lớn cho tăng trưởng tín dụng ngân hàng năm 2015

1. Hàng hóa tồn kho cao, tiêu thụ chậm

Doanh nghiệp không thể tiếp tục đẩy mạnh sản xuất khi hàng sản xuất ra không bán được. Đây là điểm nghẽn lớn nhất khiến cho tăng trưởng kinh tế nói chung, tín dụng nói riêng không đạt kỳ vọng trong những năm qua. Điển hình cho hàng tồn kho cao là tồn đọng bất động sản. Lượng cung bất động sản vượt xa lượng cầu thực trong các năm, trong khi đây là loại hàng hóa có giá trị quá cao, gây ảnh hưởng trực tiếp cho nền kinh tế. Từ đầu năm 2014 đến nay, thị trường bất động sản tuy đã khởi sắc, tuy nhiên, tồn kho của ngành này còn là câu chuyện của nhiều năm tới. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, tồn đọng bất động sản hàng hóa cuối quí 3/2014 trên địa bàn thành phố Hà Nội khoản 85 ngàn tỷ đồng, con số thực có thể cao hơn nhiều. Trong khi đó, hàng hoạt dự án bất động sản khác tiếp tục chào hàng ra thị trường, đẩy hàng tồn đọng tăng cao. Bất động sản ở Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều thành phố khác của cả nước cung trong hoàn cảnh tương tự. Tồn kho bất động sản kéo theo sự ế hàng của nhiều ngành có liên quan như xi măng, sắt thép, vật liệu, thiết bị điện, nội thất, nhân công xây dựng vv. Các mặt hàng nông sản thực phẩm như cao su, cà phê, mía đường, hạt điều, tôm, cá da trơn cũng đối diện với sự khó khăn về thị trường đầu ra và giá cá. Điểm sáng cho cho sản xuất và tiêu thụ trong những năm qua thuộc về ngành điện tử, công nghiệp ôtô, xe máy của khối nhà đầu tư nước ngoài.

2. Thiếu các dự án đầu tư có hiệu quả

Cái khó bó cái khôn, trong điều kiện hàng tồn kho cao, muốn có dự án đầu tư có hiệu quả, phải giải quyết đồng thời bài toán sản xuất và tiêu thụ. Về sản xuất, chúng ta đang gặp phải với năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thiếu khả năng canh tranh. Về tiêu thụ, sức mua trong nước thấp, chưa khai thác được thị trường xuất khẩu mới trong khi một số thị trường xuất khẩu truyền thống đang có vấn đề. Điểm lại các ngành kinh tế được xem là thế mạnh, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế và có nhu cầu hấp thu lớn vốn tín dụng, thì phần lớn là đang gặp khó khăn. Đó là ngành xây dựng, vận tải, bất động sản, ngành cao su, cà phê, cây ăn trái, cá da trơn, tôm,vv… đang có mức giá thấp và gặp khó khăn thật sự về đầu ra. Chỉ riêng mặt hàng cao su, xuất khẩu 11 tháng đầu năm 2014 đạt 954 nghìn tấn với giá trị đạt 1,62 tỷ USD, tăng 0,5% về khối lượng nhưng lại giảm 27% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

3. Các doanh nghiệp nợ nần dây dưa, nợ xấu ngân hàng vẫn đang ở mức cao

Hàng tồn kho cao không tiêu thụ được dẫn đến các doanh nghiệp nợ nần lẫn nhau không thể thanh toán, không thể trả nợ ngân hàng đúng hạn. Nếu như trước 2011, phần lớn các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp đối tác của nhau đều khá dễ chịu về điều khoản thanh toán, thì từ đầu năm 2012 đến nay, chủ yếu là phải “tiền trao cháo múc”. Khi lòng tin lẫn nhau suy giảm, thì khả năng bán hàng lại càng trở khó khăn. Tương tự, nợ xấu cao, lòng tin lẫn nhau giữa ngân hàng và doanh nghiệp giảm thấp. Doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng phải có tài sản thế chấp, trong khi tài sản của doanh nghiệp lại đang được bảo đảm cho những khoản nợ xấu chưa thể trả nợ cho ngân hàng. Nợ xấu và tăng trưởng tín dụng đang trong vòng luẩn quẩn chưa có lối ra sáng sủa.

 

Ba điểm nghẽn lớn về tăng trưởng tín dụng nêu trên, cũng chính là điểm nghẽn của nền kinh tế nước ta. Vì vậy, để tăng trưởng tín dụng, trước hết phải quyết các vấn đề của nền kinh tế. Nói cách khác là phải giải quyết các vấn đề của kinh tế vĩ mô cùng với các vấn đề cơ bản của tín dụng ngân hàng cho bài toán tăng trưởng tín dụng ngân hàng trong năm 2015 và những năm tới.

Giải pháp

Mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng của ngành ngân hàng năm 2015 là từ 13 đến 15%. Theo quan điểm của chúng tôi, nếu các điều kiện thuận lợi cho phép tăng trưởng GDP ở mức trên 6,5%, thì dư nợ tín dụng ngân hàng cần phải tăng trưởng cao hơn kế hoạch trên để hỗ trợ vốn cho nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ, NHNN và các Bộ, ngành có liên quan cần phải có các giải pháp đồng bộ cả về chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ, tín dụng ngân hàng

  • Về chính sách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vĩ mô
  • Kích cầu tiêu dùng trong nước
  • Chính sách hỗ trợ lãi suất vay tiêu dùng hay giảm thuế thu nhập cá nhân lúc này là không còn phù hợp. Vì hiện tại, mặt bằng lãi suất đã ở mức hợp lý và ngân sách nhà nước đang mất cân đối về nguồn thu. Để kích cầu tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước và doanh nghiệp cần tập trung giải quyết tốt 3 vấn đề. Thứ nhất, tạo lập và cũng cố lòng tin của người lao động về sự ổn định của kinh tế vĩ mô và cải thiện khả năng tăng trưởng kinh tế; thứ hai, cam kết chắc chắn rằng việc làm và thu nhập của người lao động sẽ ổn định; thứ ba, giảm giá bán và đa dạng hóa các hình thức bán hàng. Hiện tại, một bộ phận lớn dân cư có tích lũy đáng kể, nhưng họ chưa mạnh dạn mua sắm, vì họ còn lo sợ về sự không ổn định về việc làm và thu nhập trong tương lai. Thứ tư, điều chỉnh chỉnh chính sách thuế theo hướng vừa kích cầu tiêu dùng, vừa phù hợp với xu hướng hội nhập và bảo đảm an toàn, an sinh xã hội. Thuế tiêu thu đặc biệt về ôtô, xe máy đang quá cao, vừa không kích thích được nhu cầu tiêu dùng chính đáng của người dân, gây thất thu cho ngân sách, vừa hạn chế quá trình thực hiện lộ trình giảm thuế đã cam kết với WTO. Ngược lại, cần phải tăng thuế đối với những mặt hàng gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân cũng như an toàn, an sinh xã hội như rượu, bia, thuốc lá.

    Việc tăng lương cơ bản của người lao động kể từ năm 2015 sẽ tăng sức mua trong nước. Tuy nhiên, tăng lương cơ bản phải gắn liền với tăng năng suất lao động của xã hội. Nếu không, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam sẽ bị suy giảm. Giáo sư Kenichi Ohno của Viện nghiên cứu chính sách phát triển Quốc gia Nhật Bản cho rằng, việc tốc độ tăng năng suất lao động thấp hơn tốc độ tăng tiền lương danh nghĩa đang đánh mất đi lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Giai đoạn 2009-2012, năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế Việt Nam tăng 3,2%/năm và 5,1%/năm cho khu vực sản xuất.Trong khi đó, tiền lương danh nghĩa tăng 25,9%/năm cho toàn bộ nền kinh tế và 23,4%/năm cho khu vực sản xuất.

    Cùng với tăng niềm tin và sức mua của người tiêu dùng, cần làm tốt hơn nữa hoạt động truyền thông người Việt ưu tiên sử dụng hàng Việt. Sau sự cố giàn khoan 981 của Trung quốc hạ đặt trái phép trong vùng biển của Việt Nam hồi tháng 5/2014, phong trào này đã phát huy vai trò to lớn. Các con số thông kê về tỷ lệ hàng Việt tiêu thụ tại các siêu thị không ngừng tăng là những tín hiệu đáng mừng. Cần phải có chương trình quốc gia về vận động, tuyên truyền, giáo dục để thói quen người Việt dùng hàng Việt trở thành tập quán văn hóa của người Việt Nam. Nhiều quốc gia châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản rất thành công trong vấn đề này.

    b) Tiết giảm chi phí sản xuất, tăng năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm

    Giá cả và chất lượng sản phẩm quyết định sự lựa cho của người tiêu dùng. Nếu hàng nội có giá cả cao và chất lượng sản phẩm quá kém so với hàng ngoại, thì mọi tuyên truyền về người Việt dùng hàng Việt cũng chỉ là khẩu hiệu. Bài toán cho giá cả và chất lượng sản phẩm luôn khó. Nhưng nó quyết định thành công của mọi doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh cũng như của các quốc gia. Với nước ta, để tăng chất lượng sản phẩm, giảm giá bán, phải giải quyết tốt các vấn đề về công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, tổ chức sản xuất và tiêu thụ. Đồng thời, điều quan trọng và cấp thiết nhất lúc này là khâu quản lý và chống tham nhũng. Chi phí bôi trơn và khả năng quản lý làm cho giá thành sản phẩm tăng cao, năng lực cạnh tranh suy giảm. Vấn đề là không phải ai cũng có thể tham nhũng và ai có thể chống được nó. Điều này phụ thuộc rất lớn vào quyết tâm và khả năng chống tham nhũng của bộ máy bảo vệ pháp luật của nhà nước. Bên cạnh đó, hệ thống truyền thông và sự hợp tác của người dân cũng đóng vai trò quan trọng cho việc giải quyết vấn nạn này.

  • Khai thác thị trường xuất khẩu mới
  • Tích cực triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, tìm kiếm, mở rộng thị trường ra nước ngoài. Cục diện thế giới đã có sự biến đổi lớn trong những năm gần cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Kéo theo nó là sự thay đổi khá rõ nét về trật tự kinh tế và thị trường. Từ diễn biến chính trường Ukraina, kéo theo các lệnh trừng phạt và trả đũa kinh tế lẫn nhau, các nước thuộc EU và Nga mới thấy được mức độ nghiêm trọng của việc lệ thuộc vào thị trường lớn. Sự cố Trung Quốc đặt giàn khoan 981 trái phép vào vùng biển Việt Nam hồi tháng 5/2014 cũng là bài học lớn cho Việt Nam về xuất khẩu chính ngạch và tiểu ngạch vào thị trường này. Hoạt động ngoại giao của lãnh đạo Đảng, Chính phủ thời gian gần đây đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác, mở rộng thị trường của hàng Việt Nam. Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội các doanh nghiệp Việt Nam, các Bộ/ngành cần đẩy mạnh hơn nữa việc khai thác thị trường mới. Thị trường Nga, Châu Âu, Hoa kỳ, Châu Á được đánh giá đầy tiềm năng cho hàng Việt Nam, nhất là các mặt hàng nông sản thực phẩm, gia công, chế biến. Cùng với khai thác thị trường mới, việc xây dựng thương hiệu và uy tín của nhà sản xuất và bán hàng cũng cần phải được chú trọng đúng mức. Cần phải chú trọng công tác xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển các sản phẩm, ngành hàng cụ thể gắn kết với chiến lược phát triển thương hiệu quốc gia nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu có chiều sâu, hiệu quả và bền vững. Đồng thời, thực hiện tốt công tác cảnh báo sớm về các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam trong thương mại quốc tế.

     

  • Tăng cường đầu tư công có hiệu quả
  • Vốn ngân sách nhà nước được xem như là vốn mồi để định hướng phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Nhiệm vụ của vốn đầu tư công là tạo ra được sự lan tỏa trong nền kinh tế. Trong điều kiện ngân sách hạn hẹp, việc phân bổ và quản lý đầu tư công như thế nào để đạt hiệu quả cao đã được nhiều nhà khoa học đề xuất. Chỉ số ICOR của Việt Nam đang ở mức cao so với các nước Châu Á thờ kỳ công nghiệp hóa (xem bảng 1). Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư thấp, trong đó, có sự kém hiệu quả của đầu tư công.

    Bảng 1: Tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP của một số nền kinh tế

    Nước

    Giai đoạn

    Tăng trưởng GDP (%/năm)

    Tỷ lệ tổng đầu tư/GDP (%)

    ICOR

    Hàn Quốc

    1961 - 1980

    7,9

    23,3

    3,0

    Đài Loan

    1961 - 1980

    9,7

    26,2

    2,7

    Indonesia

    1981 - 1995

    6,9

    25,7

    3,7

    Malaysia

    1981 - 1995

    7,2

    32,9

    4,6

    Thái Lan

    1981 - 1995

    8,1

    33,3

    4,1

    Trung Quốc

    2001 -2006

    9,7

    38,8

    4,0

    Việt Nam

    1995 - 2000

    7,4

    32,8

    4,7

    2001 - 2005

    7,3

    37,96

    5,2

    2006 - 2010

    7,0

    39,3

    6,3

    2011 - 2013

    5,5

    31,4

    5,5

    Nguồn: WB, Tổng cục Thống kê

    Vốn ngân sách cần tập trung cho phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế nông thôn theo hướng chuyên môn hóa có trọng tâm trong điểm, các khu công nghiệp,ngành công nghệ có gia trị gia tăng cao. Đồng thời, tăng cường chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công. Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của nước ta cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực thời kỳ công nghiệp hóa (bảng1) là một thành công lớn của nước ta. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP có xu hướng giảm nhanh từ 2011 đến nay. Trong bối cảnh đó, Chính phủ vẫn duy trì được tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (xấp xỉ 40%) là một kết quả đáng khích lệ. Theo kế hoạch tài khóa năm 2014 ngân sách Nhà nước dành 163 ngàn tỷ đồng cho đầu tư phát triển, trong đó đầu tư cho nông nghiệp-nông thôn chiếm 41,7%.

  • Về chính sách tiền tệ - tín dụng ngân hàng
  • a) Có chính sách đột phá về hoạt động cấp và xử lý tín dụng

    Thứ nhất, có cơ chế chính sách cấp tín dụng mới đối với những khách hàng có nợ xấu, nhưng có có phương án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả.

    Đối với những khoản cấp tín dụng mới này, cần có cơ chế phù hợp về điều kiện vay vốn. Trong đó, lưu ý về điều kiện về khả năng tài chính và điều kiện về tài sản bảo đảm tiền vay. Theo qui định hiện hành (Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của NHNN) về điều kiện cho vay, thì khách hàng phải có khả năng tài chính để trả nợ vay và phải có tài sản bảo đảm tiền vay. Rõ ràng, với khách hàng có nợ xấu thì tại thời điểm vay vốn khách hàng không có khả năng tài chính để trả nợ vay (nếu có khả năng, thì đã không bị nợ xấu). Khách hàng cũng không thể có tài sản bảo đảm tiền vay. Vì tài sản của doanh nghiệp lại đang được bảo đảm cho những khoản nợ xấu chưa thể trả nợ cho ngân hàng. Theo chúng tôi, về điều kiện bảo đảm khả năng tài chính, cần qui định theo hướng là khách hàng phải chứng minh được nguồn tiền có được để trả nợ khi đến hạn. Về tài sản bảo đảm tiền vay, cần hướng dẫn các TCTD áp dụng việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay. Nếu giải quyết được 2 vấn đề cơ bản này, thì mới có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng có kết quả. Tuy nhiên, với các tổ chức tín dụng cho vay, cần phải thẩm định và bảo đảm rằng dự án, phương án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả; đồng thời, kiểm soát được dòng tiền của khách hàng vay để thu nợ. Nếu không, bẫy cấp tín dụng dưới chuẩn và bài toán xử lý nợ xấu lại lặp lại.

    Thứ hai, có chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn mới phù hợp để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng gia tăng chuỗi giá trị sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ nông sản, thực phẩm.

    Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định mới về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thay thế cho Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010. Nghị định số 41/2010/NĐ-CP mà tiền thân của nó là Quyết định 67/1999/QĐ-TTg, Nghị định số 14/CP (1993) của Chính phủ, Chỉ thị 202/CT-HĐBT (1991) của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng CP), cùng với chính sách giao đất đến hộ sản suất (khoán 10) đã giúp nước ta từ một nước nhận viện trợ lương thực, thực phẩm, thành một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, các da trơn vv...Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, Nghị định này tỏ ra không còn phù hợp. Nghị định mới cần tăng mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chế biến các mặt hàng có nguyên liệu đầu vào là các sản phẩm nông nghiệp để gia tăng chuỗi giá trị sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ nông sản, thực phẩm. Ngành cao su của nước ta đang đứng trước khó khăn chồng chất về thị trường là minh chứng rõ nhất cho việc chỉ sản xuất và sơ chế thô mủ cao su để tiêu thụ..

       b) Xử lý nợ xấu quyết liệt, đồng bộ, đúng lộ trình

    Một là, hoàn thành việc xây dựng phương án, mục tiêu, lộ trình và giải pháp xử lý nợ đối với từng khách hàng thuộc nhóm “khách hàng nhạy cảm”. Nhóm khách hàng nhạy cảm ở đây bao gồm khách hàng là sân sau của các ông chủ, lãnh đạo các TCTD, các chủ sở hữu chéo ngân hàng, các tập đoàn, tổng công ty. Với nhóm khách hàng này, nếu để ung nhọt nợ xấu phát tán, nguy cơ dẫn đến đỗ bể các NHTM chủ nợ là rất lớn. Vì thế, cần xây dựng các kịch bản xử lý nợ cho từng khách hàng riêng biệt. Đây là vấn đề hết sức lớn và phức tạp, phải đặc biệt lưu tâm lựa chọn phương án tôi ưu, không chủ quan nóng vội, nhưng phải cương quyết, đúng lộ trình.

    Hai là, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động mua, bán nợ xấu cho Công ty VAMC. Với những khách hàng có nợ xấu bán cho VAMC, cần tạo cơ chế thuận lợi để khách hàng được xem xét cấp tín dụng mới. Theo qui định tại Điều 19 Thông tư 19/2013/TT-NHNN thì khách hàng vay có khoản nợ xấu bán cho VAMC và có phương án sản xuất, kinh doanh, dự án đầu tư có hiệu quả được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xem xét, cấp tín dụng theo thỏa thuận và quy định của pháp luật. Với qui định qui định này thì trong 5 điều kiện vay vốn qui định tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của NHNN, khách hàng vay vốn sẽ không bảo đảm ít nhất 2 điều kiện. Đó là điều kiện về năng lực tài chính và bảo đảm tiền vay (như đã nêu ở kiến nghị cơ chế xử lý tín dụng nêu trên).

    Ba là, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia mua nợ xấu của các TCTD. Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN là cơ sở pháp lý cho việc bán nợ các TCTD Việt Nam cho người nước ngoài. Nếu người nước ngoài tham gia mua bán nợ xấu, giá trị thực của các khoản nợ sẽ được đánh giá xác thực, tính minh bạch cao, điều cần thiết cho việc xác định chính xác mặt bằng giá nợ xấu của các TCTD. Nhưng quan trọng hơn, việc có được tiền từ nước ngoài để đẩy nhanh xử lý nợ xấu các TCTD Việt Nam, là giải pháp hữu hiệu lúc này.

    Bốn là, khẩn trương đánh giá, nghiên cứu và kiến nghị việc kiện toàn hành lang pháp lý đủ thông thoáng cho quá trình xử lý nợ. Hiện tại, qui chế về mua bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đối với các khoản nợ bán cho VAMC đang từng được hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn. Nhưng qui chế mua bán nợ giữa các TCTD, tổ chức với tổ chức và cá nhân khác, qui định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đang là điểm nghẽn trong hoạt động thu hồi nợ của TCTD. Thực tế xử lý nợ của các TCTD cho thấy rằng, trong trường hợp khách hàng không đồng thuận, một TCTD phải mất không dưới 2 năm để xử lý bảo đảm tiền vay là bất động sản để thu hồi nợ. Nếu tình trạng này không được cải thiện, thì việc đẩy nhanh thu hồi nợ là rất khó thực hiện.

    c) Tiếp tục đẩy mạnh quá trình mua bán, sáp nhập (M&A) các TCTD. Ưu tiên bán, sáp nhập các TCTD yếu kém vào TCTD tốt để bảo đảm có đủ năng lực tài chính xử lý nợ xấu. Bởi, với những ngân hàng yếu kém, năng lực tài chính đã suy kiệt, thì càng để lâu, nợ xấu càng trầm trọng. Hơn nữa, với năng lực quản trị rủi ro của những TCTD yếu kém, nếu không được M&A vào TCTD tốt, thì có được trợ giúp xử lý nợ xấu, nguy cơ tái lập nợ xấu mới là hiện hữu. Mặt khác, thông quan M&A ngân hàng, những ung nhọt của nợ xấu, nợ nhóm khách hàng nhạy cảm, sở hữu chéo sẽ lộ diện, qua đó ngân hàng sau mua bán, sáp nhập sẽ có phương án xử lý tối ưu vớn sự trợ giúp của NHNN. Tăng trưởng tín dụng với chất lượng tốt chỉ có được khi nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng lành mạnh và thực hiện có hiệu quả quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD.

    Cuối cùng, duy trì lạm phát ổn định ở mức thấp để tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất. Mặt bằng lãi xuất cho vay bình quân từ trên 20% năm, giảm nhanh xuống dưới 9% là thành quả tuyệt vời của ngành ngân hàng và sự hỗ trợ cao của Quốc hội, Chính phủ, Bộ tài chính trong việc chỉ đạo, phối hợp đồng bộ với các chính sách tài chính vĩ mô khác. Việc giảm sâu lãi suất vay vốn giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất, tăng năng lực canh tranh. Tuy nhiên, mặt bằng lãi xuất cho vay của nước ta vẫn còn cao so với mặt bằng lãi xuất cho vay của các nước trong khu vực và trên thế giới. Theo hiệu ứng Fisher thì muốn giảm mặt bằng lãi suất chung của nền kinh tế xuống x%, thì phải tỷ lệ lạm phát phải giảm tương ứng. Tuy nhiên, muốn giảm thấp và duy trì ổn định lạm pháp, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế mở của nước ta, lạm phát còn chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề của kinh tế thế giới. Lưu ý, giá máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu của nước ta trong những năm qua giảm đáng kể, mà điển hình là giá dầu trong thời gian gần đây đóng vai trò tích cực trong việc giảm thấp chỉ số CPI của nước ta. Khi mà diễn biến giá các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng, thì duy trì chỉ số CPI ở mức thấp của Việt Nam sẽ gặp khó khăn, kéo theo mặt bằng lãi suất tăng ./.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Bùi Tất Thắng – Tái cấu trúc kinh tế để phục hồi tăng trưởng-NXB KHXH – 2014;
  • Các báo cafeF, Vnepress, Vneconomy
  • Đại học KTQD, Giáo trình lý thuyết tài chính – tiền tệ, NXB Thống kê 2002
  • NHNN, các Báo cáo thường niên 2010 – 2014
  • PGS.TS Phan thị Thu Hà, Ngân hàng thương mại, NXB Thống kế 2006
  • Nghị định số 41/2010/NĐ-CP
  • Quyết định 254/2012/QĐ-TTg
  • Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
  • Tổng cục Thống kê, niên giám thống kê các năm từ 2005-2013
  • Webside NHNN
  • TS. Nguyễn Mạnh Hùng

    Viện Chiến lược Ngân hàng

     

     

    1 Tăng trưởng dư nợ tsi dung bình quân giai đoạn 2001-2010 là 30,2%


    • aA
    • Các chuyên mục:
    • Hợp tác nghiên cứu
    CÁC TIN KHÁC
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    01/05/2025
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    22/12/2015
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    22/12/2015
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    16/12/2015
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    16/12/2015
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    30/11/2015
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    30/11/2015
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    16/11/2015
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    16/11/2015
    Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
    16/09/2015
    Đang hiển thị 1 đến 10 của 94
    • 1
    • 2
    • 3
    • 10
    Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
    CPI
    Lãi suất
    Dự trữ bắt buộc
    Hoạt động thị trường tiền tệ
    • Nghiệp vụ thị trường mở
    • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
    • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
      • Thông báo đấu thầu
      • Kết quả đấu thầu
    • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
    Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản CCHC
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
    Dịch vụ công trực tuyến
    Hoạt động khác
    • Đầu tư, đấu thầu
      • Thông tin đấu thầu
      • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
      • Các dự án đang triển khai
      • Các dự án đã hoàn tất
    • Tài chính vi mô tại Việt Nam
    • Ổn định tài chính
      • Giới thiệu
        • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
        • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
      • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
    • Hợp tác quốc tế
      • Quan hệ với ADB
      • Quan hệ với IMF
      • Quan hệ với IBEC - IIB
      • Quan hệ với WB
      • Quan hệ với AIIB
      • Quan hệ với BIS
      • Quan hệ song phương
        • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
        • Khu vực châu Á
        • Khu vực châu Âu
        • Khu vực châu Mỹ
        • Khu vực châu Phi
        • Khu vực châu Đại Dương
      • Quan hệ đa phương
        • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
        • Giới thiệu tổ chức APEC
        • Giới thiệu tổ chức ASEM
        • Giới thiệu tổ chức WTO
        • Giới thiệu tổ chức ASEAN
        • Giới thiệu SEACEN
    • Công nghệ thông tin
      • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
      • Hỗ trợ kỹ thuật
      • An toàn thông tin
        • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
        • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
        • Văn bản chính sách ANTT
        • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
    • Hoạt động khoa học công nghệ
      • Các chương trình đề tài
      • Kết quả các chương trình, đề tài
      • Hợp tác nghiên cứu
      • Dịch vụ khoa học công nghệ
      • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
    • Tổ chức cán bộ
      • Tuyển dụng
    • Thi đua khen thưởng
      • Văn bản về thi đua khen thưởng
      • Công tác thi đua khen thưởng
      • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
    • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
    • Hoạt động Tổ chức tín dụng
    • Hoạt động đoàn thể
    • Tài chính kế toán
      • Chế độ kế toán của NHNN
        • Văn bản quy phạm pháp luật
        • Văn bản hướng dẫn
      • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
        • Văn bản
        • Tình hình triển khai
      • Chế độ kế toán của TCTD
        • Văn bản quy phạm pháp luật
        • Văn bản hướng dẫn
      • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
    Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
    • Các chính sách của NHNN
    • Các chính sách của TCTD
    • Giải đáp chính sách
    • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
    NHNN với Quốc hội và cử tri
    • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
    • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
    • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
      • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
      • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
    • Hoạt động về công tác Quốc hội
    • Báo cáo, giải trình
      • Báo cáo của NHNN
      • Giải trình của NHNN
    • Tài liệu tham khảo
      • Nghị quyết của Quốc hội
      • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
      • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
    • Liên hệ
    Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
    • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
    • Thông tin định kỳ
      • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
      • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
      • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
      • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
      • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
      • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
      • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
      • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
      • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
      • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
      • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
      • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
    • Thông tin bất thường
    Hệ thống các TCTD
    • Ngân hàng
      • Ngân hàng thương mại
        • NHTM Nhà nước
        • NHTM Cổ phần
        • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
        • Ngân hàng liên doanh
      • Ngân hàng Chính sách xã hội
      • Ngân hàng Hợp tác xã
    • TCTD phi ngân hàng
      • Công ty tài chính
      • Công ty cho thuê tài chính
      • TCTD phi ngân hàng khác
    • Tổ chức tài chính vi mô
    • Quỹ tín dụng nhân dân
    • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
    • Văn phòng đại diện
    Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
    • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
      • Kết quả triển khai
    • Chương trình khác
      • Kết quả triển khai
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
      • Văn bản chỉ đạo, điều hành
      • Kết quả triển khai
    Phổ biến kiến thức
    • Phổ biến kiến thức pháp luật
    • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
      • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
        • Phát hành và điều hòa tiền mặt
        • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
        • Tiền đình chỉ lưu hành
        • Phân biệt tiền thật, tiền giả
        • Bảo vệ tiền Việt Nam
      • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
        • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
        • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
    Tiếp cận thông tin
    • Danh mục thông tin công khai
    • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
    • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
    • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
    • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
    Thanh Tìm kiếm
    TIN VIDEO
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    TIN ẢNH
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    TIN ẢNH
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
    Icon

    Danh bạ liên hệ

    Icon

    Phản ánh kiến nghị

    Icon

    Đường dây nóng

    Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
    Ngân hàng
    ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
    Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
    © cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
    Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
    Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
    Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
    NCSC Certification
    Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
    Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
    IPv6 Ready