Sáng 12/1/2012, tại Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đối thoại trực tuyến với người dân. Có rất nhiều câu hỏi của người dân từ khắp mọi miền đất nước được gửi đến chương trình. Với thời gian 105 phút, Thống đốc đã trả lời thuyết phục và thỏa đáng hơn hai chục câu hỏi. Cuộc đối thoại tập trung vào một số vấn đề như: Sự chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, hạn mức tăng trưởng tín dụng, tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, thị trường ngoại hối và vàng, vốn cho TTCK....
Cuộc đối thoại được truyền hình trên Internet đồng thời truyền trực tiếp trên kênh VTC1- Đài truyền hình kỹ thuật số VTC, phát thanh trực tiếp trên hệ Thời sự – Chính trị VOV1- Đài Tiếng nói Việt Nam để cung cấp thông tin tới các tầng lớp nhân dân trong nước, Việt kiều, các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Đây là hoạt động nhằm thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương tăng cường giao lưu trực tuyến, đối thoại trực tuyến trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ góp phần định hướng dư luận, tạo đồng thuận trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Sau đây là một số trong nhiều vấn đề liên quan đến thị trường tiền tệ được đông đảo người dân, doanh nghiệp quan tâm mà Thống đốc NHNN đã trả lời trong buổi đối thoại trực tuyến:
Không cào bằng mức tăng trưởng tín dụng cho tất cả các ngân hàng
Trả lời câu hỏi của độc giả về chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ được phân bổ theo chất lượng hoạt động từng ngân hàng, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong năm 2012 sẽ ở mức 15-17%. Thế nhưng năm nay NHNN không cào bằng tỷ lệ này cho tất cả các tổ chức tín dụng mà sẽ phân loại các tổ chức tín dụng để trên cơ sở đó có quy định về tỷ lệ được tăng trưởng tín dụng.
Để phân loại các tổ chức tín dụng bao gồm rất nhiều tiêu chí. Nhưng phần lớn là dựa vào các chỉ tiêu, chỉ số về mức độ lành mạnh trong hoạt động tài chính của tổ chức tín dụng. “Nói nôm na, một cơ thể khỏe mạnh thì chúng ta cũng tạo mọi điều kiện để cơ thể đó phát triển. Còn cơ thể bắt đầu có dấu hiệu bị bệnh, chúng ta cũng có điều trị hay chế độ ăn kiêng ở mức vừa phải để vẫn đảm bảo được sức khỏe nhưng cũng qua được bệnh tật. Những người nào mắc bệnh nặng thì chế độ ăn kiêng, chế độ điều trị nặng hơn nữa. Hay có những người nặng hơn nữa, chẳng ăn uống được gì thì chỉ có chuyền thuốc”, Thống đốc nói, “cũng tương tự như vậy, trong hệ thống các ngân hàng, chúng tôi cũng làm như thế. Các tiêu chí này, chúng tôi sẽ công khai minh bạch, thậm chí mỗi tổ chức tín dụng đều có thể biết mình nằm ở nhóm nào”.
Năm 2011, nhìn chung nợ xấu có tăng lên so với 2010, đây cũng là điều dễ hiểu khi chúng ta thắt chặt lại tăng trưởng tín dụng… và do những khó khăn trong kinh tế trong nước và ngoài nước. Nhưng nợ xấu vẫn nằm trong tầm kiểm soát của NHNN.
Thống đốc nhấn mạnh: “Các chỉ tiêu tăng trưởng tính dụng được phân bổ cho các ngân hàng sẽ rất khác nhau và nếu thấy thế mà bảo là không công bằng là không phải. Có thể nói, về hình thức thì có vẻ không công bằng vì mỗi ngân hàng có được chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng khác nhau, nhưng về bản chất thì rất công bằng với thực trạng tài chính của các tổ chức tín dụng”.
Thị trường tiền tệ phải trở về đúng bản chất
Vấn đề thanh khoản, hướng đi của dòng vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng trong năm 2012 được nhiều độc giả quan tâm. Nhiều nhà đầu tư muốn hỏi quan điểm của Thống đốc liệu NHNN có biện pháp nào giúp thị trường chứng khoán được cải thiện không?. Về vấn đề này, Thống đốc Nguyễn Văn Bình thẳng thắn cho biết: “Chúng ta phải có cái nhìn rất đầy đủ và chính xác về thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ. Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, dưới một năm và là thị trường sử dụng tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế. Khi bạn có tiền nhàn rỗi, bạn gửi tiền ở ngân hàng để ngân hàng giữ hộ tiền và để sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Thêm vào đó, các ngân hàng có thể kinh doanh khoản tiền đó, tạo lợi nhuận và trả cho bạn một lãi suất nhất định. Do đó, lãi suất phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng và được điều tiết trên cơ sở chính sách tiền tệ của NHNN trong từng thời kỳ.
Còn thị trường vốn mang tính trung và dài hạn. Để doanh nghiệp phát triển lành mạnh, thì người ta chỉ đến vay ngân hàng khi cần sử dụng vốn lưu động (tất nhiên có những doanh nghiệp lành mạnh vay vốn của ngân hàng để đầu tư). Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, dù tỷ lệ thời hạn có thể khác nhau, nhưng có một tỷ lệ vốn đọng lại có thể mang ra cho vay trung và dài hạn. Chính vì vậy, NHNN quy định tỷ lệ vốn cho vay trung và dài hạn không được vượt quá 30% vốn ngắn hạn. Tiền gửi vào luôn luôn là ngắn hạn và có thể rút ra bất cứ lúc nào, nhưng tỷ lệ vốn luôn đọng lại trong hệ thống ngân hàng vào khoảng 30%. Cho nên, bên cạnh cho vay vốn lưu động, các tổ chức tín dụng có thể cho vay vốn đầu tư một tỷ lệ nhất định.
Về vấn đề ngân hàng dùng tiền ngân hàng cho vay chứng khoán để giúp thị trường chứng khoán cải thiện hơn, nếu ngân hàng sử dụng trong tỷ lệ cho phép thì có thể được, không ảnh hưởng đến tính chất dòng vốn của thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, nếu ngân hàng sử dụng quá tỷ lệ này, thì vừa ảnh hưởng đến ngân hàng, vừa ảnh hưởng thị trường chứng khoán. Do vậy, về bản chất, không thể dùng vốn ngắn hạn của ngân hàng để cho vay trên thị trường chứng khoán là thị trường vốn trung và dài hạn, mà ngân hàng chỉ có thể cho vay một tỷ lệ nhất định. Thời gian qua chúng ta đã làm đúng như thế.
Còn trong tình hình hiện nay, do chúng ta đang thắt chặt tín dụng, ưu tiên tín dụng cho sản xuất kinh doanh, thì tỷ lệ nói trên đã giảm xuống rất thấp, hiện khoảng 3%/tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Chúng tôi khẳng định tất cả những biện pháp đang làm hiện nay, đặc biệt là quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, là những bước đi cơ bản, vững chắc để giúp không chỉ lập lại – hay gọi là trả lại tên đúng nghĩa – cho thị trường tiền tệ và thị trường vốn, trong đó có thị trường chứng khoán.
Trước đây, đầu tư toàn xã hội lên tới 44% GDP, trong khi tích lũy chỉ 20%, tức là lúc nào cũng ở tình trạng nhu cầu đầu tư rất cao, nhưng khả năng về vốn rất thấp. Từ đó, hệ thống ngân hàng nâng lãi suất lên, đua nhau hút phần 20% nêu trên vì hút bao nhiêu cũng cho vay ra được. Và khi lãi suất lên cao như vậy, thị trường vốn không còn gì để hoạt động, thị trường tiền tệ đồng thời thực hiện chức năng thị trường vốn. Khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, các ngân hàng thương mại vẫn hút vốn, thì thị trường chứng khoán rất “xanh xao”, khi nào chính sách được nới lỏng thì tỷ lệ cho vay chứng khoán cao lên, thị trường chứng khoán lại “hồng hào”.
Như vậy, việc ngân hàng bơm vốn để cải thiện thị trường chứng khoán là biện pháp sai về bản chất. Do vậy, về căn cơ, phải lập lại trật tự trên 2 thị trường này, thị trường tiền tệ phải trở lại với vai trò của nó, thì thị trường vốn mới phát triển được. Để thị trường tiền tệ trở về đúng bản chất của nó, không phải là một kênh đầu tư vốn mà chỉ thu hút tiền tạm thời nhàn rỗ, lãi suất chỉ ở một mức độ nhất định. Nếu lãi suất không hấp dẫn, người dân sẽ tìm sang kênh đầu tư khác. Hiện NHNN đang điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nâng cao giá trị đồng Việt Nam, nên như thực tế năm 2011, nếu đầu tư vào ngoại tệ thì không có lợi bằng đầu tư vào nội tệ, tức là ngoại tệ không còn hấp dẫn. Người ta có thể đầu tư vào vàng, nhưng như tôi đã nói, chính sách về quản lý thị trường vàng trong thời gian tới sẽ làm cho thị trường này không còn hấp dẫn nữa. Về thị trường bất động sản, chính sách của chúng ta cũng khiến thị trường này không còn nóng, sốt, biến động lớn.
Như vậy, người dân sẽ đầu tư vào thị trường vốn, thị trường trái phiếu, cổ phiếu và đó là hướng chúng tôi đang đi. Nhưng bên cạnh đó, chúng tôi cũng rất mong các cơ quan quản lý Nhà nước khác về thị trường vốn cũng phải có bước đi thích hợp”.
Việt Nam không có khủng hoảng ngân hàng
Về câu hỏi của một độc giả: “Tôi là một nhà kinh tế, tôi đã nhìn ra cuộc khủng hoảng ngân hàng này ở Việt Nam trước đây 3 năm bởi sự bất cập về cơ chế quản lý, buông lỏng, thành lập NH quá nhiều, cho vay bất động sản không kiểm soát… Có phải có nhóm lợi ích chi phối hoạt động, tỷ lệ nợ xấu có thực như công bố ?”. Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình khẳng định: “Về khủng hoảng, tôi xin nói rằng, chúng ta không có khủng hoảng ngân hàng. Dưới góc độ phân tích, bạn thấy tình hình căng thẳng quá, còn với chúng tôi, những người điều hành trực tiếp hoạt động ngân hàng và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng và Nhà nước về hệ thống ngân hàng thì chúng tôi khẳng định rằng chúng ta không có khủng hoảng ngân hàng”.
Thống đốc giải thích, hiện nay VN đặt vấn đề tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng không phải do hệ thống ngân hàng của VN yếu kém đến mức độ không tái cấu trúc nó thì nó đổ vỡ ngay lập tức”. Theo ông Nguyễn Văn Bình, việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng hiện nay xuất phát từ nhu cầu của đất nước trong bối cảnh thay đổi lại mô hình phát triển kinh tế. Mỗi nền kinh tế có hệ thống huyết mạch của nó, cơ thể như thế này thì cần huyết mạch tương ứng. Chúng ta nếu muốn xây dựng cơ thể khác, thì nội dung cơ bản của cơ thể đó là trái tim và huyết mạch cũng phải có điều chỉnh khác đi. Như vậy, nhu cầu tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trước tiên xuất phát từ nhu cầu tái cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng chuyển từ kinh tế phát triển theo chiều rộng sang kinh tế phát triển có chiều sâu, theo hướng từ số lượng sang chất lượng. Đấy là nhu cầu thứ nhất và cấp bách và cũng để đáp ứng nhu cầu đó, chúng ta cũng kèm theo là giải quyết những yếu kém đang tồn tại trong hệ thống ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng của Việt Nam về cơ bản vẫn đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống đặt ra và trên thực tế, bạn cũng thấy rằng, những năm vừa qua, ví dụ như năm 2008, lạm phát cao, rất nhiều khó khăn, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn đứng vững. Sau đó, năm 2009, khi có khủng hoảng tài chính toàn cầu, ngân hàng thế giới, kinh tế thế giới chao đảo, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn đứng vững. Do vậy, xin khẳng định, Việt Nam không có khủng hoảng hệ thống ngân hàng.
Về câu hỏi có lợi ích nhóm trong hệ thống ngân hàng hay không, Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói: “Nếu trên góc độ vĩ mô toàn hệ thống, tôi xin nói là không, còn dưới góc độ một vài ngân hàng thì có. Bởi hiện nay, chúng ta có một số tổ chức tín dụng yếu, quy mô nhỏ, tình hình tài chính không lành mạnh. Các tổ chức đó phục vụ lợi ích một số cổ đông chiếm tỷ trọng chi phối đối với tổ chức đó. Lợi ích nhóm ở đây là lợi ích của các cổ đông lớn của ngân hàng đó mà đúng ra, ngân hàng phải phục vụ lợi ích đại chúng. Trên góc độ vĩ mô toàn bộ hệ thống ngân hàng, không có chuyện vì lợi ích nhóm nào đó mà phải cho vay bất động sản....
Đối với một nền kinh tế của một nước đang phát triển như Việt Nam , thị trường bất động sản luôn đóng vai trò rất quan trọng. Nếu thị trường này được quản lý hợp lý thì sẽ là động lực cho phát triển KT-XH. Nhưng ngược lại, nếu thiếu kiểm soát, để thị trường phát triển bất hợp lý, nó sẽ gây ra bất ổn cho nền kinh tế. Ở một số nước, để thị trường bất động sản tăng trưởng quá nóng, có hiện tượng “ bong bóng “, thì khi nó vỡ, gây ra hệ lụy rất lớn. Điều đó từng xảy ra ở một số quốc gia.
Để thị trường bất động sản lành mạnh, không nóng quá là bài toán đang đặt ra cho Chính phủ. Hệ thống ngân hàng cũng cần góp phần quan trọng lành mạnh hóa thị trường này. Trong năm qua, chúng ta có một số biện pháp hạn chế nhất định để “ giảm nhiệt “ sự tăng trưởng nóng, hay giá quá cao của thị trường bất động sản để đưa về mức độ hợp lý. Trước ý kiến cho rằng làm như vậy có nguy cơ khiến thị trường sụp đổ thì tôi khẳng định rằng không thể làm nó sụp đổ được. Chúng ta chỉ đưa thị trường về mức độ phát triển hợp lý hơn”.
Đối với thắc mắc của độc giả rằng nợ xấu thấp như vậy (chứng tỏ chất lượng tín dụng tốt) thì làm sao hệ thống ngân hàng mất thanh khoản?. Thống đốc cho biết mất thanh khoản không phải chỉ do nợ xấu. Hệ thống ngân hàng hơi khác so với các doanh nghiệp. Nợ xấu có thể cao nhưng cuối năm ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro để chi trả cho nợ xấu đó (nếu không thu hồi được). Tức là, ngân hàng phải dùng lợi nhuận của mình để bù đắp nợ xấu. Trong thực tiễn, đầu năm có thể nợ xấu cao nhưng cuối năm khi ngân hàng trích lập quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp thì nợ xấu giảm đi. Đó mới là kết quả chung của hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, cũng cần xét tới quy định, khái niệm thế nào là nợ xấu. Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam , chúng ta có bước tiến lớn trong xếp loại nợ (theo 5 nhóm), khá phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, khi xếp loại, do đánh giá chủ quan, có tổ chức, cá nhân xếp loại nợ của một ngân hàng nào đó vào nhóm 5 nhưng tổ chức, cá nhân khác cho rằng không đến mức độ như vậy. Do chuẩn mực kế toán của Việt Nam và quốc tế cũng chưa đồng nhất, khi đánh giá của kiểm toán trong nước so với quốc tế có độ vênh nhất định nên tạo ra dư luận có thể nợ xấu cao hơn. Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng nhiều lần khẳng định nợ xấu của ngân hàng so với trước khi có tăng lên nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát và ở mức an toàn.
Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng
Có nhiều câu hỏi của độc giả quan tâm đến vấn đề huy động vàng, kinh doanh và sản xuất vàng miếng, đặc biệt việc NHNN lựa chọn vàng miếng thương hiệu SJC thành nhãn hiệu vàng của NHNN. Độc giả Nguyễn Ánh Tuyết – TPHCM đề nghị “Xin Thống đốc khẳng định lại lý do lựa chọn trên và giải pháp hài hòa lợi ích các bên? Lộ trình và các biện pháp sắp tới xóa bỏ kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do, kéo giá vàng sát giá quốc tế?”. Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình giải thích: “ Tôi xin điều chỉnh lại một chút, tôi không bao giờ nói rằng, NHNN sáp nhập công ty SJC. SJC là công ty rất lớn, trong hoạt động của họ có phần kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ. Bên cạnh đó, họ có hoạt động sản xuất và kinh doanh vàng miếng. NHNN không có chức năng kinh doanh sản xuất vàng trang sức. Bản thân NHNN không được pháp luật cho phép và cũng không có nhu cầu lấy phần ấy. Do vậy, chúng ta phải khẳng định, chỉ lấy phần sản xuất vàng miếng của công ty này, hay nói một cách khác, có 1 xưởng in/ dập ra loại vàng miếng này. Nay cái xưởng đó, hoàn toàn do NHNN chi phối kể cả về mặt sản xuất, như nguyên liệu đưa vào, kế hoạch sản xuất dập ra bao nhiêu, sản phẩm sau khi dập ra do NHNN quản lý. Còn toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác của SJC vẫn của SJC. Chúng tôi khẳng định như thế, không sẽ tạo ra sự hiểu lầm.
Nét khác trong quy định mới của Chính phủ là Nhà nước độc quyền về sản xuất vàng miếng. Thế có nghĩa là vàng SJC hiện nay, nhãn hiệu vàng miếng SJC sẽ được hiểu rằng là không phải của công ty SJC, mà là của Nhà nước. Còn nếu có nhãn vàng nào thấy từ nay trở đi mình không được sản xuất nữa, thì vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích quốc gia, họ phải hy sinh lợi ích của mình. Thế nhưng trên thực tế, chúng tôi thấy rằng, lợi ích của các nhãn vàng khác cũng ở mức độ không lớn. Thời gian vừa qua, lượng vàng SJC chiếm tới 90% lượng vàng giao dịch trên thị trường. Chỉ có 10% chia cho 7 nhãn mác khác, có nghĩa là mỗi nhãn mác cũng chỉ chiếm vài ba phần trăm. Tôi cho rằng, đây là chủ trương mới của Nhà nước là Nhà nước độc quyền trong sản xuất vàng miếng- đây là lợi ích quốc gia. Còn không có lợi ích độc quyền của SJC ảnh hưởng tới các nhãn vàng khác, đấy là của Nhà nước. Cũng như tiền tệ, chỉ có đồng Việt Nam của Nhà nước, do NHNN phát hành. Đến một lúc nào đó, chúng tôi cũng có thể tiến tới đổi tên thành SBV, nhưng vấn chi phí rất lớn trong việc chúng ta đổi lại. Chúng ta phải làm dần dần, để đảm bảo không gây xáo trộn quá lớn trong việc lưu chuyển vàng hiện có. Do đó, vấn đề thứ 2 là tiết giảm chi phí.
Về mối quan tâm của nhiều độc giả rằng trong dân và trong các ngân hàng thương mại hiện đang nắm giữ lượng vàng rất lớn, có con số nói lên đến hàng trăm tấn. Vậy sắp tới NHNN có chính sách gì để chuyển đổi lượng vàng này thành tiền trong lưu thông? Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho biết, đây cũng là một trong những chủ trương NHNN đang theo đuổi. Theo thống kê của NHNN, trong nền kinh tế có từ 200-300 tấn vàng. Nhưng phần lớn số vàng này nằm trong dân. “Chủ trương của chúng ta là phải làm sao để dân giàu nhưng nước phải mạnh”, Thống đốc nói. Nói một cách khác, dân thì có vàng, nhưng vàng đó phải được huy động vào cho việc phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển đất nước. Việc thực hiện điều đó trong giai đoạn vừa qua còn yếu kém. Hiện NHNN đang xây dựng đề án để làm sao huy động được nguồn lực này trong dân phục vụ cho việc phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Phương Trâm- Ngọc Lan
Ảnh: CKH