Khủng hoảng kinh tế tại khu vực liên minh châu Âu (Eurozone) đã bùng phát ngay từ đầu năm 2010 khi Hy Lạp cho biết khó có khả năng thanh toán các món nợ mà nước này đã vay mượn trên thị trường. Đã có ý kiến cho rằng nguyên nhân của khủng hoảng nợ công là những gói hỗ trợ khổng lồ nhằm khôi phục nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008. Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân trực tiếp tác động đến nền kinh tế của Hy Lạp. Chúng ta cần nhận thấy những nguy cơ tiềm ẩn – các yếu tố nội sinh gây ra cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp để tìm ra giải pháp thích hợp nhất cho quốc gia này.
Nguyên nhân thứ nhất được đề cập đến là Hy Lạp đã không tuân thủ chặt chẽ các quy định trong liên minh tiền tệ. Quy định quan trọng nhất của khối liên minh tiền tệ này là các thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực theo Hiệp ước Maastricht, trong đó có quy định mức bội chi của ngân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP (có xem xét trường hợp mức thâm hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mức thâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang tính tạm thời, không đáng kể, không là mức bội chi cơ cấu), nợ chính phủ nhỏ hơn hoặc bằng 60% GDP (có xem xét các trường hợp đang điều chỉnh). Nếu đối chiếu các quy định này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham gia khu vực đồng tiền chung châu Âu vào tháng 5-1998. Nhưng chỉ hai năm sau, ngày 1-1-2001, mặc dù vẫn chưa đủ tiêu chuẩn, Hy Lạp vẫn được chấp thuận gia nhập vào khu vực đồng tiền chung với điều kiện phải nỗ lực cải thiện mức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ. Tuy nhiên, cho đến nay, các ràng buộc trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp. Bội chi ngân sách và nợ nước ngoài không những không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng.
Nguyên nhân thứ hai là do tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực. Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạn (hàng hóa, vốn và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn) nhằm giúp các quốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn diện và sâu rộng. Tuy nhiên, đối với các quốc gia nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu thì đây thực sự là thách thức; hơn thế nữa, nếu một quốc gia có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mại thấp, năng lực cạnh tranh thấp thì họ không thể xây dựng rào cản để bảo hộ nền sản xuất trong nước. Hàng hóa thiếu cạnh tranh, sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, thu ngân sách giảm, chi an sinh xã hội cao. Hy Lạp chính là minh chứng cho điều này. Theo quy định của EU, các quốc gia được phép giữ lại 25% thuế xuất nhập khẩu hàng hóa vào EU để trang trải chi phí hoạt động và 75% còn lại được chuyển vào ngân sách chung của EU. Điều này có nghĩa, các quốc gia có vị trí thuận lợi về giao thông quốc tế như: sân bay, bến cảng... sẽ nhận được một nguồn thu đặc biệt từ thuế nhập khẩu vào EU. Nhưng đối với các quốc gia nhỏ hơn, ở vị trí bất lợi hơn như Hy Lạp không những không nhận được nguồn thu nào mà thậm chí đó còn là khoản thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu đang tiêu thụ tại nước mình.
Ngoài ra, tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn sóng di dân khi thực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng các khoản chi phúc lợi, chi an sinh xã hội cho công dân của mình. Điều này góp phần càng làm gia tăng thâm hụt ngân sách. Hy Lạp là nước được cho là chính phủ quá “vung tay” trong việc sử dụng ngân sách.
Mâu thuẫn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cũng là một nguyên nhân tác động đến cuộc khủng hoảng tại Hy Lạp. Hy Lạp tham gia vào Eurozone đồng nghĩa với việc chấp nhận chính sách tiền tệ do ECB đề ra nhằm theo đuổi mục tiêu kiềm chế lam phát. Chính sách tiền tệ do ECB đưa ra là hợp lý khi muốn ổn định đồng euro trong khu vực. Tuy nhiên lại gây khó khăn cho chính phủ các nước thành viên khi xây dựng chính sách tài khóa phù hợp với điều kiện kinh tế nước mình. Cụ thể, lãi suất trên thị trường tiền tệ phụ thuộc vào chính sách lãi suất do ECB định đoạt. Lãi suất trái phiếu chính phủ lại do bộ tài chính của từng quốc gia quyết định. Quyết định của bộ tài chính phụ thuộc vào chính sách tài khóa của từng quốc gia. Đối với Hy Lạp, cũng như một số nước có năng lực cạnh tranh kém hơn, thâm hụt ngân sách lớn hơn các quốc gia khác trong khối khu vực đồng tiền chung châu Âu, để bình ổn nền kinh tế các nước này thường chọn phương án phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất cao hơn. Vì vậy, khủng hoảng nợ do mất khả năng chi trả chỉ còn là vấn đề thời gian.
Hy Lạp là một trong những mắt xích tương đối yếu của khu vực đồng tiền chung châu Âu. Tưởng chừng gia nhập EU sẽ là điều kiện giúp Hy Lạp có thế vay với lãi suất thấp cùng với những khoản vay khổng lồ. Nhưng hoạt động này cũng dẫn tới tình trạng lạm phát leo thang. Đi cùng với đó, cuộc khủng hoảng 2008 càng khiến nền kinh tế của nước này thêm nguy khốn. Để chấp nhận gói cứu trợ 110 tỷ euro của EU và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), chính phủ Hy Lạp đã phải đưa ra một loạt các biện pháp hà khắc “thắt lưng buộc bụng” như: cắt giảm tối thiểu 1000 euro các khoản thưởng cuối năm tại khu vực công, cắt thưởng hoàn toàn cho những người có lương từ 3000 euro mỗi tháng, giảm 8% trợ cấp, 3% chi tiêu công… cũng như phải tăng thuế VAT, thuế đánh vào các mặt hàng xa xỉ, các mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng để tăng nguồn thu cho ngân sách.
LVH