Vài năm trở lại đây, điện toán đám mây đã trở nên phổ biến. Các đám mây cung cấp dịch vụ hạ tầng (IaaS) mang đến tính linh hoạt rất cao do chúng cho phép cung cấp và triển khai máy ảo một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào kết nối Internet để có thể truy cập tới những server đám mây ngoài lại là điều không mong muốn đối với các tổ chức. Họ sẽ không thể truy cập server nếu mất kết nối Internet hay khi đường truyền tắc nghẽn.
Với giải pháp xây dựng một đám mây riêng, doanh nghiệp sẽ vẫn được hưởng lợi từ sự linh hoạt của đám mây IaaS mà còn tránh được rủi ro mất truy cập server do đứt kết nối Internet. Đám mây riêng sẽ có một cổng dịch vụ cho phép những nhà quản trị hay người dùng được cho phép sử dụng một giao diện web đơn giản để chọn các tài nguyên mà họ muốn cung cấp và phân chức năng cho server muốn triển khai.
Active Directory
Giải pháp đám mây riêng đòi hỏi một hạ tầng Active Directory và các bộ điều khiển miền. Trong một số tình huống, đám mây riêng có thể không truy cập được sau khi thực hiện ảo hóa trên các bộ điều khiển miền. Để tránh điều này, nên đặt ít nhất một bộ điều khiển miền ngoài môi trường ảo hóa.
Microsoft Deployment Toolkit
Bước đầu tiên xây dựng đám mây riêng là cài đặt bộ công cụ Deployment Toolkit 2010 (MDT) của Microsoft lên một server vật lý có khả năng truy cập tới các server khác tạo thành đám mây. Server sử dụng sẽ đóng vai trò làm kho lưu các file ảnh thực thi. Điều này đòi hỏi phải sử dụng một server có không gian lưu trữ lớn cho những file ảnh muốn tạo. Và những file ảnh này phải có thể truy cập được qua tính năng chia sẻ mạng.
Cài đặt MDT
Windows MDT chỉ có kích thước 15MB. Sau khi đã tải xong, chạy file thực thi để hiện cửa sổ cài đặt. Nhấn Next để bỏ qua màn hình chào mừng. Chương trình sẽ hỏi bạn có chấp nhận điều khoản thỏa thuận hay không. Nếu chấp nhận, nhấn Next để tiếp tục. Chương trình tiếp tục hỏi những thành phần người dùng muốn cài đặt. Chọn cài tất cả các thành phần (đây là tùy chọn mặc định) và nhấn Next để cài đặt.
Tạo thư mục chung
Ta tạo một thư mục chung (deployment share) bằng cách mở Deployment Workbench, kích chuột phải vào thư mục Deployment Shares và chọn New Deployment Share từ thực đơn ngữ cảnh, như hình dưới.
Trong khi tạo thư mục chung, có thể xuất hiện một thông báo lỗi yêu cầu cập nhật phiên bản Windows Automated Installation Kit mới hơn. Tải về bộ Automated installation Kit. Trước khi cài đặt phiên bản mới này, người dùng phải cài bản SP1 cho Windows Server 2008 R2.
Khi thực hiện tạo thư mục chung mới, Windows sẽ khởi chạy cửa sổ cài đặt. Ở màn hình đầu tiên, nhập đường dẫn cho thư mục chung. Đây là đường dẫn để lưu toàn bộ file ảnh thực thi. Do vậy, hãy chọn vị trí một cách cẩn trọng và có không gian lưu trữ lớn. Nhấn Next sau đó đặt tên cho thư mục chung sẽ tạo. Tên mặc định là DeploymentShare$. Ký hiệu $ cuối tên để ẩn thư mục. Sau khi nhấn Next, nhập mô tả cho thư mục sẽ tạo.
Một màn hình hiện ra hỏi có muốn cấp mật khẩu quản trị cho những người dùng hay không. Tạm thời đừng tích vào tùy chọn này do chúng ta thực sự không muốn người dùng biết mật khẩu quản trị cục bộ.
Sau khi nhấn Next, cửa sổ cài sẽ hỏi bạn có muốn Windows yêu cầu product key từ người dùng không. Bỏ qua tùy chọn này. Khi nhấn Next, bạn sẽ thấy một bảng tổng kết những tùy chọn cấu hình ta đã chọn. Kiểm tra để xác nhận lại các tùy chọn. Nếu tất cả đều ổn, nhấn Next để tạo thư mục chung. Khi quá trình hoàn tất, kích Finish.
Bổ sung các hệ điều hành
Trong thư mục chung vừa được tạo ra sẽ chứa một thư mục con gọi là Operating Systems. Kích chuột phải vào thư mục và chọn New Folder từ thực đơn ngữ cảnh. Cửa sổ tạo thư mục mới được khởi chạy.
Màn hình khởi tạo sẽ yêu cầu đặt tên và mô tả cho thư mục. Ở đây ta đặt tên thư mục là Windows Server 2008 R2. Sau đó, nhấn Next. Kiểm tra lại thông tin vừa nhập trong màn hình tổng kết và nhấn Next. Khi Windows tạo xong thư mục, nhấn Next tiếp.
Sau khi tạo xong thư mục cho hệ điều hành, tạo thêm bất kỳ thư mục nào mà bạn có thể cần. Trong bài này, ta sẽ tạo một thư mục Windows Server 2008 R2 và thư mục Windows 7.
Tiếp theo, nhập các file của hệ điều hành vào thư mục đã tạo. Cho đĩa cài của hệ điều hành muốn nhập vào máy, kích chuột phải vào thư mục đã tạo và chọn Import Operating System từ thực đơn ngữ cảnh. Windows sẽ khởi chạy cửa sổ cài đặt Import Operating System Wizard.
Màn hình đầu tiên yêu cầu cung cấp loại hệ điều hành mà bạn muốn thêm. Chọn tùy chọn Full Set of Source Files và nhấn Next. Tiếp theo, dẫn đến file nguồn bằng cách trỏ tới ổ DVD.
Kích Next để đặt tên cho thư mục đích. Thư mục đích được quảng bá tự động và mặc định có thể phù hợp với mục đích của bạn. Nhấn Next để xem thông tin tổng quát về những tùy chọn ta đã cung cấp. Chương trình sẽ nhập hệ điều hành từ phương tiện cài đặt. Sau khi hoàn thành, toàn bộ các bản Windows khác nhau được liệt kê trong thư mục tương ứng.
Xây dựng chuỗi nhiệm vụ
Tiếp theo, chúng ta sẽ triển khai một server quản lý máy ảo và một số server chủ Hyper-V. Để tạo chuỗi nhiệm vụ này, vào thư mục chung và sau đó kích chuột phải vào thư mục Task Sequences. Chọn New Folder từ thực đơn ngữ cảnh và sau đó sử dụng cửa sổ cài để tạo một thư mục có tên OS Install. Khi thư mục được tạo, kích chuột phải vào thư mục và chọn New Task Sequence từ thực đơn ngữ cảnh.
Windows bây giờ sẽ khởi chạy cửa sổ cài đặt Task Sequence. Đầu tiên ta phải cấp mã nhận dạng cho nhiệm vụ đang tạo và đặt tên nhiệm vụ. Trong ví dụ này, ta đặt tên chuỗi nhiệm vụ là Windows Server 2008 R2 và sử dụng ID là W2K8R2G.
Sau khi nhập tên và ID, nhấn Next. Chương trình sẽ hỏi loại khuôn mẫu nhiệm vụ muốn sử dụng. Chọn tùy chọn Standard Server Task Sequence và nhấn Next. Nhấn Next để nhập tên người dùng, tên tổ chức và trang chủ cho Internet Explorer. Nhập thông tin và kích Next. Tiếp theo, bạn phải nhập mật khẩu quản trị nội bộ sẽ được dùng trên các server được triển khai từ file ảnh này. Nhấn Next để xem lại các tùy chọn chuỗi nhiệm vụ. Nếu tất cả đều đúng, kích Next để tạo chuỗi. Khi quá trình hoàn tất, nhấn Finish. Bạn sẽ thấy chuỗi nhiệm vụ mới được liệt kê trong thư mục OS Install.
Tuấn Nguyên
(Theo VirtualizationAdmin)