Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946). Tương quan lực lượng giữa ta và Pháp quá chênh lệch. Từ năm 1947, lực lượng cách mạng chủ động rút về vùng nông thôn, miền núi để xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Hầu hết các thành phố bị Pháp chiếm đóng. Trong thực tế đã hình thành vùng kinh tế kháng chiến (vùng tự do) và vùng Pháp tạm chiếm, từ đó hình thành hai thị trường tiền tệ đối lập nhau: Vùng tự do lưu hành giấy bạc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vùng tạm chiếm lưu hành tiền Đông Dương của Pháp.
Điều kiện chiến tranh ác liệt đã gây trở ngại lớn trong việc in ấn, vận chuyển, phát hành và lưu thông đồng tiền thống nhất trong cả nước. Tình hình đó đòi hỏi phải hình thành 3 khu vực tiền tệ trong khuôn khổ nền tiền tệ độc lập tự chủ, phù hợp với nền kinh tế kháng chiến, với các khu vực hành chính ở thế cài răng lược.
Đường lối kinh tế kháng chiến là toàn quốc tự cung tự cấp, tự giải quyết những nhu cầu của kháng chiến, các địa phương tự lập. Thực hiện chủ trương đó, Chính phủ đã cho thành lập 3 khu vực tiền tệ và cho phép phát hành các đồng tiền khu vực.
Khu vực vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Vùng này bao gồm các tỉnh trung du và miền núi Việt Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và khu V (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Ở đây lưu hành tiền của Chính phủ Trung ương, được gọi là tiền Tài chính hay tiền Trung ương.
Vùng Liên khu V
Chủ yếu bao gồm 4 tỉnh thuộc vùng tự do ở Nam Trung Bộ, với 3 triệu dân, gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Trước đây khu vực này được chọn để phát hành giấy bạc Trung ương đầu tiên. Từ khi 3 tỉnh Bình -Trị - Thiên bị Pháp chiếm đóng, giao thông vận chuyển bị gián đoạn, Chính phủ đã cho phép chính quyền Liên khu V in và phát hành Tín phiếu khu V (Sắc lệnh 231/SL ngày 18/7/1947).
Những tờ Tín phiếu đầu tiên được vẽ, khắc trên gỗ rất thô sơ, lên máy in 5 lần mới đủ màu, đủ số serie. Bị đánh phá ác liệt, nhưng nhà máy chủ động sơ tán nhiều nơi, nên vẫn đảm bảo sản xuất. Các tờ Tín phiếu phải có chữ ký của ông Phạm Văn Đồng - Đại diện Chính phủ Trung ương tại Nam Trung Bộ, mới có hiệu lực lưu hành.
Khu vực Nam Bộ
Lúc đầu, Nam Bộ phải tiêu dùng hoàn toàn tiền Đông Dương. Vì thiếu bạc lẻ, có lúc đã phải chủ trương cắt đôi tờ bạc Đông Dương loại 100 đồng trở xuống để tiêu dùng trong khu căn cứ kháng chiến. Có nơi tiêu cả giấy bạc Trung ương từ Liên khu V đưa vào. Uỷ ban Kháng chiến Hành chính (UBKCHC) Nam Bộ còn chủ trương đóng dấu của Chính quyền tỉnh, quận, huyện và dấu khắc khẩu hiệu “Ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh” đóng lên tờ bạc 100 đồng và các loại giấy bạc Đông Dương khác để cho lưu hành bình thường trong vùng kháng chiến.
Ngày 1/11/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 102/SL cho phép Nam Bộ phát hành tín phiếu riêng. Sau đó, để bớt khó khăn cho Nam Bộ, bằng Sắc lệnh số 147/SL ngày 2/3/1948, Chính phủ Trung ương còn cho phép phát hành tại Nam Bộ giấy bạc Việt Nam, số lượng là 300 triệu đồng (thường gọi là giấy bạc Trung ương, để phân biệt với loại giấy bạc do Nam Bộ phát hành sau này). Đồng thời, số lượng giấy bạc in từ Trung ương đưa vào Nam Bộ bằng đường biển ngày càng nhiều, gồm đủ các loại, từ 1 đồng đến 100 đồng. Giấy bạc Trung ương được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, có giá trị cao hơn giá trị giấy bạc Đông Dương rất nhiều, có nơi cao hơn 50%.
Thời gian này, Pháp tung ra thị trường nhiều giấy bạc Việt Nam giả. UBKCHC Nam Bộ liền chủ trương “đắp nền” trên tờ bạc Trung ương một phiếu “Kiểm soát đặc biệt”, có chữ ký của Chủ tịch UBKCHC và Trưởng ty ngân khố tỉnh, rồi cho lưu hành trong địa phương.
Cuối năm 1948, vì giấy bạc Trung ương chuyển vào khó khăn, được sự uỷ nhiệm của Chính phủ Trung ương, UBKCHC Nam Bộ đã tiến hành ấn loát tại chỗ và phát hành các loại “Giấy bạc Nam Bộ” của toàn Nam Bộ (gồm các giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng). Lúc này, cả 3 loại tiền (tiền Đông Dương đã “Việt Nam hoá”, giấy bạc Trung ương và giấy bạc Nam Bộ) cùng lưu hành, được nhân dân tín nhiệm, có giá trị ngang nhau. Vào cuối năm 1952, các loại giấy bạc Đông Dương đã “Việt Nam hoá” dần dần biến mất, một phần do rách nát, một phần do chính quyền kháng chiến thu hồi và tiêu huỷ.
Các loại tiền Việt Nam của toàn Nam Bộ nói trên được lưu hành rộng rãi, chủ yếu ở khu căn cứ miền Tây Nam Bộ với khoảng 1 triệu dân (gồm Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Long Châu Hà).Tổng số giấy bạc do UBKCHC Nam Bộ thống nhất in và lưu hành trên toàn Nam Bộ từ năm 1950 đến năm 1954 là 2.519 triệu đồng. Trong đó, thời gian từ 1950 – 1952 chủ yếu là phát hành tiền cho chi tiêu tài chính (1.233 triệu đồng). Về sau, từ 1953-1954 thì tiền phát hành chủ yếu nhằm phục vụ thúc đẩy sản xuất và một phần để tích luỹ ngoại tệ cần thiết cho đấu tranh kinh tế và tiền tệ với Pháp.
Để đối phó có hiệu quả hơn với âm mưu phá hoại của địch và khắc phục khó khăn do chiến sự đã chia cắt các thị trường, từ ngày 28/8/1949, căn cứ vào Sắc lệnh số 102/SL ngày 1/11/1947 của Chính phủ Trung ương, UBKCHC Nam Bộ ra Nghị định số 267/NĐ cho lưu hành “Tín phiếu Nam Bộ” và “Phiếu tiếp tế” của từng tỉnh, liên tỉnh với kiểu dáng khác nhau và chỉ có giá trị lưu hành trong từng địa phương. Các tỉnh có tín phiếu: Trà Vinh, Vĩnh Trà, Thủ Biên... Các tỉnh có phiếu tiếp tế: Sóc Trăng, Vĩnh Long, Rạch Giá, Hà Tiên, Cần Thơ, Bến tre...
Tín phiếu và phiếu tiếp tế có tính chất và giá trị lưu hành như nhau (đều có chữ ký của Chủ tịch UBKCHC và Trưởng ty Ngân khố tỉnh sở tại và ghi rõ chỉ được lưu hành trong tỉnh). Tín phiếu và phiếu tiếp tế được coi là giấy bạc Việt Nam có tính chất địa phương, có chức năng chi trả đầy đủ ngang với giấy bạc Trung ương và giấy bạc toàn Nam Bộ. Tổng số tín phiếu và phiếu tiếp tế của các tỉnh và liên tỉnh trên toàn Nam Bộ đã phát hành là 306 triệu đồng.
Một nét độc đáo khác của lịch sử tiền tệ Nam Bộ là cuối 1953, để hạn chế số lượng tiền mặt trong lưu thông, Ngân hàng Nhân dân Nam Bộ đã phát hành “Séc ghi tên”, gồm các loại 1.000đ, 5.000đ và 10.000đ. Loại séc này có thể thay cho giấy bạc, mua hàng ở Mậu dịch quốc doanh, đóng thuế cho Cách mạng, rút tiền mặt ở Ngân hàng khi cần. Tổng giá trị séc đã phát hành là 94,5 triệu đồng. Đến 31/12/1954, sau Hiệp định Genève đã được thu hồi gần hết, chỉ còn nằm ngoài thị trường hơn 1,7 triệu đồng.
Để có được những đồng tiền Việt Nam các loại ở Nam Bộ, công tác tạo dựng cơ sở vật chất in ấn rất được chính quyền các cấp quan tâm, chú ý. Từ năm 1948, UBKCHC Nam Bộ đã thành lập “Ban ấn loát đặc biệt” đóng tại Đồng Tháp. Ban đã tổ chức và quản lý nhiều phân Ban:
- Phân ban A do ông Thân Trọng Song phụ trách, đóng ở Đồng Tháp.
- Phân ban B do hoạ sĩ Huỳnh Văn Gấm phụ trách, in loại giấy 50đ (kiểu 1). Sau này, phân ban B được chuyển từ rừng U Minh xuống rừng Năm Căn.
- Phân ban C được lập ở khu VII, nhưng không hoạt động được do khu căn cứ bị thu hẹp.
Đến giữa năm 1952, do Pháp tăng cường đánh phá nên đã chia bớt phân ban B ra một bộ phận để lập phân ban Đ. Phân ban này đóng ở Tân Đức - Đầm Dơi do ông Nguyễn Thực phụ trách.
Để cung cấp mẫu tiền cho các phân ban dùng in ấn, một đội ngũ họa sỹ có kinh nghiệm bao gồm hoạ sĩ Huỳnh Văn Gấm, Sáu Hộ, Lê Ba, Lê Thiên, Trần Ngọc Thanh... và 6 cán bộ kỹ thuật về giấy, quy trình in do Trung ương cử vào từ tháng 9/1949 được phụ trác bởi kỹ sư Ngô Tấn Nhơn đã cho ra đời những tờ giấy bạc Cụ Hồ khá đẹp- với hình tượng những con người Nam Bộ hiên ngang kháng chiến. Các loại tiền được sản xuất bằng nguyên liệu tại chỗ, in trên nền giấy khá dai, khó có thể làm giả.
Đầu năm 1954, Nam Bộ chủ trương phát hành các loại giấy bạc 200đ và 500đ. Đến giữa 1954 loại giấy bạc 200đ đã in xong, chưa kịp phát hành thì phải chuyển quân tập kết. Loại 500đ còn trên bản vẽ.
Vì xa Trung ương, ngành tài chính- ngân hàng Nam Bộ phải tự lo để đảm bảo các hoạt động quân sự, kinh tế – xã hội. Với những vùng tự do không lớn, không có an toàn khu, lại bị Pháp ruồng bố luôn, nhưng đồng tiền Cách mạng vẫn ngang nhiên lưu hành. Việc in và lưu hành giấy bạc Nam Bộ rất đa dạng (tiền tỉnh, liên tỉnh, toàn Nam Bộ, tiền Trung ương) đã tạo thêm một khu vực tiền tệ hết sức độc đáo, kip thời phục vụ sản xuất và chiến đấu tại chỗ, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của chính quyền, sự mua bán trao đổi trong nhân dân vùng tự do.
Nhìn trên cục diện toàn quốc, trong điều kiện chiến tranh cài răng lược, vùng tự do và vùng Pháp chiếm xen kẽ nhau, nên hệ thống lưu thông tiền tệ đã được vận hành theo một cơ chế đặc biệt:
- Trên thị trường, cùng lúc lưu hành nhiều loại tiền. Hoạt động kinh tế giữa vùng tự do và vùng bị chiếm lệ thuộc vào nhau. Tiền kháng chiến và tiền Đông Dương thâm nhập nhau. Tình hình đó tất yếu phải có cơ chế vận hành thời chiến, hết sức linh hoạt.
- Việc hình thành 3 khu vực tiền tệ riêng phù hợp với đặc điểm sản xuất và lưu thông hàng hoá ở mỗi vùng, đáp ứng kịp thời yêu cầu của từng khu vực.
- Chế độ tiền tệ khu vực đã phá được thế độc quyền và hạn chế khả năng thao túng của tiền Đông Dương. Nhờ sức mạnh đoàn kết và tình cảm cách mạng của nhân dân, tuy bị chia cắt, nhưng vẫn duy trì được hệ thống tiền tệ độc lập tự chủ.
Tính biệt lập của tiền tệ khu vực không làm mất đi sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ trung ương đối với hệ thống tiền tệ kháng chiến. Nhà nước vẫn giữ độc quyền phát hành các dấu hiệu tiền tệ và vận hành nó theo cơ chế vừa tập trung, vừa phi tập trung rất hiệu quả, phù hợp với điều kiện đặc thù của một cuộc chiến không phân chiến tuyến. Tình hình diễn ra trong suốt thời kỳ kháng chiến 9 năm (1945-1954) đã minh chứng đầy đủ tính đúng đắn và sáng tạo của chủ trương đồng tiền khu vực. Việc phân khu nhưng luôn tuân thủ tính thống nhất và xuyên suốt của chính sách tiền tệ thời chiến là một cung cách quản lý tiền tệ hết sức độc đáo của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ đầu.
(Tài liệu tham khảo: Bản thảo“Lịch sử Ngân hàng Việt Nam 1945-2006” NHNN VN và Viện Kinh tế VN)
MT