Việc sáp nhập, hợp nhất các TCTD đều do NHNN đứng ra thực hiện và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) chỉ tham gia dưới sự chỉ đạo của NHNN. DIV sẵn sàng đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình để đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền. Đó là khẳng định của TS. Nguyễn Mạnh Dũng - Phó tổng giám đốc DIV với phóng viên Thời báo Ngân hàng. (Đức Nghiêm thực hiện).
Thưa ông, tái cấu trúc hệ thống là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng năm 2012. Vai trò của DIV như thế nào?
DIV là một tổ chức tài chính đặc biệt, được Chính phủ thành lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần đảm bảo an toàn lành mạnh hệ thống ngân hàng, nâng cao niềm tin công chúng vào hệ thống tài chính quốc gia. Trong quá trình tái cấu trúc hệ thống, nếu có sự sắp xếp, sáp nhập, thậm chí giải thể ngân hàng nào đó thì đều có sự chỉ đạo của NHNN và DIV tuyệt đối tuân thủ sự chỉ đạo này. Tôi cho rằng trong quá trình này, quan trọng nhất là không được để xảy ra sự hoảng loạn, mất niềm tin. Vì vậy, muốn thực hiện tốt tái cấu trúc hệ thống ngân hàng phải tạo sự an dân. An dân ở đây là an lòng người gửi tiền và DIV xác định rất rõ và coi đây là trách nhiệm của mình.
Đã có một số ngân hàng bị xếp vào nhóm 4 - nhóm có vấn đề, nên việc sáp nhập, hợp nhất, giải thể… sẽ là không tránh khỏi. Vậy DIV chuẩn bị gì cho các "sự kiện" sắp tới?
Chúng tôi đã có kinh nghiệm trong đợt hợp nhất 3 NHTMCP: Sài Gòn, Việt Nam Tín Nghĩa, Đệ Nhất vừa qua. Như chúng ta đã thấy, mọi chuyện diễn ra rất suôn sẻ. Đó chính là do có sự chuẩn bị kỹ của các bên liên quan, có sự chỉ đạo, của NHNN. Vì thế, không phải chờ đến khi có "sự kiện" chúng tôi mới hành động mà luôn có sự chủ động. Việc tham gia bảo hiểm tiền gửi hiện nay là quy định bắt buộc đối với các TCTD. Và DIV có hệ thống giám sát từ xa đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm. Trước khi có sự sáp nhập hay mua bán ngân hàng đều phải có điều tra chi tiết. Để làm được việc này Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng (NHNN) có thông tin riêng và DIV cũng có báo cáo hàng tháng, hàng quý để NHNN có thêm thông tin. Trên cơ sở từ hai kênh thông tin trên, chúng ta sẽ có bức tranh tổng thể về sức khỏe của các ngân hàng một cách chuẩn xác nhất. Khi hai cơ quan bổ trợ thông tin cho nhau sẽ tránh được những rủi ro khi tiến hành mua bán, sáp nhập ngân hàng. Thực tế, trên thế giới khi mua bán sáp nhập ngân hàng trung bình có 50% thành công, 50% đổ vỡ, nhưng gần đây thì là 40% và 60%. Nguyên nhân là do thông tin không đầy đủ.
Điều người gửi tiền quan tâm nhất vẫn là món tiền gửi của mình được bảo đảm không. Ông có thể nói gì về điều này?
Chúng ta chưa đủ điều kiện thực hiện phương thức tuyên bố sáp nhập, đóng cửa ngân hàng chiều thứ Sáu, sáng thứ Hai người dân đã có thể giao dịch ở ngân hàng mới như ở một số nước trên thế giới. Nhưng tôi có thể nói rằng, khi có dự kiến về sáp nhập, mua bán, hợp nhất ngân hàng thì NHNN luôn công khai với người dân: trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải bảo vệ 100% quyền lợi của người gửi tiền. Cuộc hợp nhất 3 ngân hàng vừa rồi, sau khi có công bố của NHNN thì không có cảnh người dân xếp hàng rút tiền khỏi ngân hàng.
Đó là với chỉ ba ngân hàng, tới đây, con số này có thể nhiều hơn. DIV thu xếp như thế nào về khoản tiền chi trả, nếu người dân muốn rút tiền thưa ông?
Chúng tôi đã chuẩn bị rất bài bản, với đề án có sự nghiên cứu từ kinh nghiệm xử lý của nhiều ngân hàng trên thế giới. Ngoài số tiền 10.000 tỷ đồng đang có, chúng tôi đã đề xuất phương án, cách tạo tiền như thế nào mà không lấy tiền từ ngân sách. Ví dụ, sẽ có sự tham gia của các NHTM lớn, như việc BIDV tham gia quá trình hợp nhất của ba NHTMCP nói trên. Kinh nghiệm từ Mỹ cho thấy, vừa qua họ có hàng trăm ngân hàng phải sáp nhập, mua bán, giải thể... số tiền phải chi trả lên đến gần 400 tỷ USD, trong khi đó quỹ bảo hiểm của họ chỉ có 45 tỷ USD, họ vẫn xử lý thành công.
Nếu các NHTMCP lớn phải tham gia như ông nói, thì quyền lợi của họ, hay cụ thể hơn là các cổ đông sẽ như thế nào, thưa ông?
Với các cổ đông thì quan trọng nhất là lợi nhuận. Nhưng lãnh đạo ngân hàng phải giải thích cho cổ đông hiểu: Ngân hàng là ngành kinh tế quan trọng, một lĩnh vực nhạy cảm. Bất cứ sự xáo trộn, hay đổ vỡ của ngân hàng nào đó sẽ ảnh hưởng đến tất cả thị trường. Do đó, chúng ta không thể thấy nhà hàng xóm "cháy" mà không tham gia ứng cứu. Sự ứng cứu này có thể sẽ khiến ngân hàng lớn phải chia sẻ một phần lợi nhuận. Nhưng nếu để đám cháy lan rộng, thì họ sẽ phải hoạt động, kinh doanh trong môi trường bất lợi hơn, và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng và cũng chính là lợi nhuận của các cổ đông.
Vậy, phải chăng chúng ta nên sớm công bố công khai "nhà" nào có nguy cơ "cháy"?
Nếu công bố công khai, đột xuất quá sẽ gây sốc. Tôi thấy cách làm như của NHNN hiện nay là cách làm tốt. Bởi, khi NHNN thông báo cho nội bộ TCTD biết họ thuộc nhóm 4, nếu muốn mình không phải là nhóm 4 thì họ phải chứng minh. Nếu họ không chứng minh được, dần dần sẽ bị lộ. Và như vậy, mọi người đều có thời gian chuẩn bị kế hoạch của mình, những người "trong cuộc" và cả người dân.
Ở các nước khác cũng vậy. Việc đánh giá, xếp hạng các TCTD là bình thường, nhưng thông tin thì tuyệt đối không được công bố. Nếu công bố, hay để rò rỉ sẽ là phạm luật. Còn đối với những ngân hàng yếu kém, đã đến mức phải chuẩn bị sắp xếp, hợp nhất rồi thì cơ quan quản lý phải từng bước nêu rõ những ngân hàng nào phải xử lý.
Nếu đã luôn có sự đánh giá, xếp loại TCTD, vậy sao DIV không thu phí bảo hiểm trên cơ sở mức độ rủi ro của TCTD, thưa ông?
DIV đã xây dựng Đề án thu phí theo phương thức này, nhưng hiện đang vướng mắc là chờ Luật Bảo hiểm tiền gửi được thông qua. Chúng ta đều biết, có thể xếp ngân hàng thành 5 loại khác nhau gồm: ngân hàng tốt, ngân hàng khá, ngân hàng trung bình, ngân hàng yếu, và ngân hàng kém. Theo nguyên tắc thị trường, ngân hàng tốt thì bao giờ cũng được hưởng ưu đãi vì khả năng họ gây "cháy" là rất thấp. Còn những ngân hàng khác, độ rủi ro cao thì phải phạt nặng bằng phí bảo hiểm. Phạt nặng để ngân hàng đó phải vươn lên, trụ vững; nếu không được, họ buộc phải ra khỏi thị trường…
Xin cảm ơn ông!