Diễn biến lạm phát và những nhân tố tác động
Bước sang năm 2012, trước những diễn biến kinh tế vĩ mô phức tạp trong nước và quốc tế, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/1/2012 về những giải pháp chủ yếu điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, trong đó nêu rõ mục tiêu được ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Theo đó, mục tiêu lạm phát trong cả năm 2012 được Chính phủ đề ra ban đầu là tăng dưới 10%; trong phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 5/2012 được điều chỉnh còn 7- 8%. Quyết định này được đưa ra trong bối cảnh lạm phát những tháng đầu năm 2012 liên tục giảm. Cụ thể, ngoại trừ 2 tháng đầu năm, lạm phát tăng cao do yếu tố mùa vụ với mức tăng lần lượt là 1% và 1,37% so với tháng trước, chỉ số CPI từ tháng 3 tới tháng 8 chỉ tăng rất chậm. Đặc biệt, trong tháng 6 và tháng 7/2012, lạm phát đã ở mức âm (với mức tăng CPI lần lượt là -0,26% và -0,29% so với tháng trước). Qua đó, lạm phát so với cùng kỳ cũng đã giảm nhanh từ 17,27% vào tháng 1/2012 xuống mức 5,04% trong tháng 8/2012, và hiện tại ở mức 7%. Tuy nhiên, trong tháng 8 và tháng 9, lạm phát đã đảo chiều hoàn toàn với mức tăng trong 2 tháng lần lượt là 0,63% và 2,2% so với tháng trước. Đặc biệt, mức tăng của lạm phát tháng 9 (2,2%) đã vượt ngoài dự báo của nhiều chuyên gia. Song bước sang tháng 10, lạm phát đã có phần hạ nhiệt với mức tăng CPI của tháng 10 so với tháng trước là 0,85%, tuy nhiên, đây vẫn là mức tăng khá cao so với các năm trước
Đồ thị 1. Diễn biến CPI và chỉ số giá một số mặt hàng
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Quan sát số liệu thống kê về chỉ số giá của các hàng hóa trong rổ tính CPI năm 2012 cho thấyhầu hết các nhóm hàng trong rổ hàng hóa tính CPI đều có xu hướng tăng trong quý III, và đặc biệt tăng mạnh vào tháng 9. Trong đó đáng chú ý:
+ Trong 10 tháng đầu năm 2012, nhóm “hàng ăn và dịch vụ ăn uống” có đóng góp rất nhỏ vào tăng trưởng CPI chung - đây là điểm khác biệt so với các năm trước. Cụ thể, tính chung 9 tháng đầu năm 2012, nhóm hàng này chỉ đóng góp 4,05% vào mức tăng CPI chung, thấp hơn so với các nhóm hàng “thuốc và dịch vụ y tế” (33%), giáo dục (16,23%), nhà ở và vật liệu xây dựng (14,19%). Từ đầu năm đến nay, nhóm hàng này đã trải qua một đợt giảm giá kéo dài trong 6 tháng liên tiếp (từ tháng 3 đến tháng 8) với mức giảm từ -0,14% tới - 0,83%. Mặc dù, CPI nhóm lương thực thực phẩm trong nước tháng 9 và tháng 10 đã tăng nhẹ trở lại so với tháng trước lần lượt là 0,08% và 0,29%, nhưng tỷ trọng đóng góp của nhóm hàng này vào CPI chung vẫn khá thấp so với những năm trước. Hơn nữa, Giá LTTP thế giới cũng đã tăng nhẹ vào tháng 9 với mức tăng 1,38% so với tháng 8/2012 nhưng so với đầu năm 2012, giá LTTP thế giới đã giảm 6,73%. Xu hướng đó phần nào đã có ảnh hưởng tới diễn biến chỉ số CPI của nhóm hàng lương thực thực phẩm trong nước từ đầu năm đến nay.
Đồ thị 2: Diễn biến chỉ số giá lương thực thực phẩm trong nước và thế giới
Nguồn: FAO và GSO
+ Đóng góp nhiều nhất vào CPI quý III, đặc biệt là CPI tháng 9, là các nhóm hàng thuốc và dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông.
- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng mạnh trong tháng 9 do Chính phủ đã có quyết định tăng giá vào tháng 4.Tính đến nay, cả nước đã có 32 tỉnh, thành phố đồng loạt tăng giá dịch vụ y tế với các mức tăng khác nhau. Điều này làm nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng mạnh 17,02% so với tháng trước trong tháng 9, qua đó góp phần làm CPI chung tăng khoảng 0,95% (tỷ trọng đóng góp 43,4%). Đây là nhóm hàng có mức tăng đột biến trong tháng 9. Sang tháng 10, giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế có phần dịu bớt khi nhóm hàng này chỉ tăng 5,94% so với tháng trước và đóng góp 39,2% vào mức tăng CPI chung.
- Nhóm giao thông có xu hướng tăng trong quý III do các quyết định điều chỉnh tăng giá xăng dầu của Chính phủ. Trong tháng 9, nhóm giao thông đã tăng 3,83% so với tháng trước, góp phần 0,34% trong mức tăng CPI chung cả nước (tỷ trọng đóng góp 15,44%), chủ yếu do các quyết định điều chỉnh tăng giá xăng dầu trong cuối tháng 8. Sang tháng 10, nhóm hàng này chỉ tăng 0,61% so với tháng 9, tỷ trọng đóng góp qua đó cũng giảm mạnh xuống còn 6,37%.
Việc điều chỉnh giá xăng dầu trong thời gian vừa qua chịu ảnh hưởng bởi sự tăng giá của nhóm hàng dầu thô và năng lượng trên thế giới – là hai nhóm hàng tăng mạnh nhất với mức tăng so với quý trước lần lượt là 14% và 17%.
Đồ thị 3: Diễn biến giá một số hàng hóa trên thế giới
Nguồn: IMF commodities price index
Việc nhóm hàng dầu thô và nhiên liệu trên thế giới tăng vào cuối quý III đã tác động mạnh làm tăng giá mặt hàng xăng dầu trong nước. Cụ thể chỉ trong quý 3, trước biến động tăng giá mạnh của giá dầu thế giới, giá dầu trong nước đã được điều chỉnh tăng tới 12,62% (từ mức 21.000 lên mức 23.650 đ/lít). Giá xăng dầu trong nước tăng đã tác động tới giá nhóm hàng giao thông tăng 3,83% trong tháng 9. Bên cạnh đó, giá mặt hàng nhiên liệu, năng lượng thế giới tăng cũng làm tăng giá gas, điện trong nước.
Đồ thị 4. Mối quan hệ giữa giá dầu thô thế giới và giá xăng A92 trong nước
Nguồn: Bộ Tài chính và Tổng công ty công nghệ năng lượng dầu khí
- Nhóm giáo dục tăng do yếu tố thời vụ (các chi phí liên quan đến giáo dục đầu năm học mới tăng ở các cấp học). Bước vào năm học mới, cả nước đã có 42 tỉnh, thành phố điều chỉnh đồng loạt tăng học phí ở các cấp học làm nhóm giáo dục trong tháng 9 tăng 10,54% so với tháng trước, qua đó đóng góp 0,6% trong mức tăng CPI chung cả nước (tỷ trọng đóng góp 27,4%). Yếu tố mùa vụ được thể hiện rõ khi trong tháng 10, nhóm hàng này chỉ tăng 1,88% so với tháng 9, tỷ trọng đóng góp giảm mạnh còn 12,65%.
- Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh trong 2 tháng cuối quý III một phần do nhu cầu mua nhà ở thực đang dần khởi sắc, với mức tăng lần lượt là 2,03% và 2,18%. Bên cạnh đó, việc giá dầu hỏa tăng 6,38%, giá gas tăng 11,8% cũng phần nào tác động làm giá nhóm hàng này tăng trong quý III.
Giá cả các mặt hàng chủ chốt đầu vào trong nước + Giá xăng dầu trong nước từ đầu năm 2012 tới nay đã qua 11 lần điều chỉnh (6 lần điều chỉnh tăng, 5 lần điều chỉnh giảm). Trong đó, giá xăng A92 đã tăng 13,7% so với đầu năm, từ 20.800 đ/lít lên 23.650 đ/lít + Giá điện tăng thêm 5% từ 1.304 đ/kWH lên 1.369 đ/kWh + Giá gas tăng 23,3%, từ mức 350.000 – 352.000đ/bình lên mức 433.000-434.000đ/bình |
Như vậy,có thể nhận thấy rằng sự gia tăng của CPI trong quý III nói chung và tháng 9 nói riêng chủ yếu chịu tác động của việc tăng giá 04 nhóm hàng thuốc và dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông. Sự tăng giá ở đây không phản ánh hoàn toàn quan hệ cung cầu hàng hóa mà sự gia tăng này phần lớn mang tính thời điểm, mùa vụ và phần lớn được điều chỉnh mạnh trong tháng 9.
Thực tế đó càng được khẳng định khi xét đến những yếu tố khác như tổng cầu, yếu tố tiền tệ - là những yếu tố thường tạo áp lực tăng lạm phát trong những năm qua. Có thể nhận thấy, từ đầu năm đến nay, cùng bối cảnh chung của kinh tế thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng có phần giảm sút, tốc độ tăng trưởng kinh tế chung đạt mức thấp nhất trong vài năm trở lại đây, nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng thấp hơn so với cùng kỳ, vốn đầu tư chưa có dấu hiệu phục hồi và hiệu quả sử dụng vốn vẫn là vấn đề đáng quan ngại. Bên cạnh đó, mặc dù lãi suất tín dụng đã được điều chỉnh giảm phù hợp với với diễn biến của lạm phát nhằm hỗ trợ cho khu vực sản xuất song tăng trưởng tín dụng qua các tháng vẫn đạt ở mức thấp.
Như vậy có thể nhận thấy rằng diễn biến lạm phát trong 10 tháng qua có những một số điểm đáng chú ý sau:
+ Diễn biến của lạm phát không chịu chi phối mạnh từ sức ép của tổng cầu, kỳ vọng lạm phát đã có neo để suy giảm;
+ Mức tăng CPI trong Quý III nói chung và tháng 9 nói riêng đã chịu sự tác động mạnh của việc tăng phí dịch vụ y tế và học phí giáo dục. Sự tăng giá của hai nhóm hàng này chỉ ảnh hưởng một lần và mang tính thời điểm đối với chỉ số giá
+ Tiền tệ không còn là nhân tố tác động mạnh đến diễn biến của lạm phát từ đầu năm đến nay. Mặc dù đã có tác động rõ nét hơn, tuy nhiên vẫn không phải là nhân tố chính tác động tới mức tăng của lạm phát quý III.
Trước diễn biến của lạm phát, một số chuyên gia kinh tế cũng tỏ ra quan ngại khi chỉ số CPI tăng trong hai tháng vừa qua không tăng lên bằng nhu cầu thực chất do đó không phản ánh việc sức mua được cải thiện mà thậm chí sẽ có thể tác động ngược trở lại – làm suy giảm mạnh hơn sức mua của dân trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay. Đồng thời các chuyên gia cũng cho rằng không thể xem thường sự tăng giá hàng loạt của các mặt hàng thiết yếu mà cần thiết phải có những biện pháp kiểm soát những tác động trễ của việc tăng giá trên cũng như cần phải giãn lộ trình điều chỉnh một cách hợp lý để kiềm chế trước nguy cơ lạm phát quay trở lại. Bên cạnh đó, các nhân tố chi phí đẩy, nhân tố tiền tệ - tài khóa và nhân tố tổng cầu cũng được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng và sẽ có tác động mạnh hơn đến chỉ số giá tiêu dùng trong những tháng cuối năm.
- Giá hàng hóa thế giới, đặc biệt là giá lương thực thực phẩm vẫn tiếp tục có xu hướng gia tăng;Giá hàng hóa trong nước vẫn có thể nằm trong lộ trình tăng giá - Tác động trễ của các nhân tố tiền tệ - tài khóa Tín dụng đang có xu hướng gia tăng trở lại. Sau khi tăng trưởng thấp trong những tháng đầu năm, tín dụng bắt đầu tăng trưởng trở lại từ tháng 6 và đang có xu hướng tăng dần. So với cuối năm trước, tín dụng 6 tháng đầu năm chỉ tăng 0,76% song đến 19/10/2012 tổng dư nợ tín dụng (bao gồm cả đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và ủy thác) của nền kinh tế tăng 2,77% so với 31/12/2011 Chính phủ đã ra nghị quyết số 67/NQ-CP trong đó yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy nhanh việc thực hiện và giải ngân đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ. Bên cạnh đó, Chính phủ còn yêu cầu các Bộ, ngành địa phương tăng cường tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ. - Khả năng phục hồi của tổng cầu Phân tích diễn biến các chỉ số PMI – purchasing management index, cũng như các chỉ số sản lượng cho thấy đầu tư đang có xu hướng phục hồi. Mức sản lượng đang dần cải thiện, Theo đánh giá của HSBC thì hoạt động sản xuất đang có dấu hiệu phục hồi theo hình chữ V. Tương tự, chỉ số việc làm và số lượng hàng mua đã tăng dần lên mức 50 điểm, chứng tỏ hoạt động sản xuất đã có xu hướng gia tăng. Thêm vào đó, việc xuất khẩu tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm ngoái là một tín hiệu tích cực. Tất cả những dấu hiệu trên chứng tỏ đầu tư phục hồi sẽ là một tín hiệu giúp gia tăng tổng cầu nền kinh tế trong những tháng cuối năm; - Việc các nền kinh tế lớn đẩy mạnh việc cung tiền để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế có thể làm cho lạm phát thế giới gia tăng tác động tới sự ổn định của tỷ giá trong nước; - Tâm lý kỳ vọng lạm phát cao đã phải mất nhiều thời gian mới tạm thời hạn chế được, tuy nhiên việc CPI tăng cao trở lại có thể sẽ phá vỡ những kết quả đã đạt được. |
Mặc dù những nhận định về xu hướng của các nhân tố tác động lên diễn biến của lạm phát vào những tháng cuối năm là không mấy tích cực, song việc chỉ số giá tiêu dùng của tháng 10 diễn ra thấp hơn so các kịch bản giả định cùng với chủ trương của Chính phủ (thể hiện thông qua Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 9/2012) đối với việc tiếp tục tập trung kiểm soát chặt chẽ giá cả, thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô cũng đã giảm bớt quan ngại về áp lực lạm phát trong 2 tháng còn lại của năm - lạm phát vẫn có xu hướng tăng lên nhưng ở trong giới hạn kiểm soát. Mô hình dự báo lạm phát ngắn hạn của Viện Chiến lược cho thấy lạm phát trong các tháng tới sẽ tăng trung bình khoảng 0,8%-1% so với tháng trước. Cuối năm 2012, lạm phát ở mức 7,39%-8%, đạt mục tiêu đề ra.
Chủ trương điều hành của Chính phủ trong nhưng tháng cuối năm + Kiểm soát chặt chẽ các loại giá, phí của hàng hóa, không để tăng đột biến giá các dịch vụ và mặt hàng tiêu dùng thiết yếu trong những tháng cuối năm 2012. + NHNN tiếp tục điều hành CSTT linh hoạt, phối hợp với CSTK giúp doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay cho sản xuất kinh doanh, nhưng không để lạm phát tăng trở lại, tăng tín dụng cho khu vực nông nghiệp, thủy sản và các ngành nghề có khả năng tiêu thụ sản phẩm; đảm bảo mức tăng tổng phương tiện thanh toán như mục tiêu đề ra; +Xử lý dứt điểm các ngân hàng yếu kém, góp phần ổn định hệ thống ngân hàng, thực hiện đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. |
ThS. Nguyễn Thị Minh Ngọc
ThS. Trần Thị Thanh Hòa
Nguyễn Đình Trung