Tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của hệ thống NH Việt Nam. Cơ cấu TD chính là tỷ trọng dư nợ TD được nhìn nhận, đánh giá theo các tiêu chí khác nhau nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Vì vậy, cơ cấu TD là một phạm trù khá rộng, nó có liên quan mật thiết với phạm trù cơ cấu kinh tế. Cơ cấu TD có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau với cơ cấu kinh tế. Thứ nhất, cơ cấu kinh tế quyết định cơ cấu TD và cơ cấu TD phục vụ cho mục tiêu, định hướng phát triển của cơ cấu kinh tế. Nghị quyết đại hội X của Đảng đặt ra mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp phát triển thì đầu tư TD phải ưu tiên cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thứ hai, cơ cấu TD có tác động trở lại đối với cơ cấu kinh tế. TD là một “kênh” đầu tư vốn quan trọng (đặc biệt là Việt Nam) trong nền kinh tế quốc dân. Việc tăng cường hay hạn chế (thực chất là điều chỉnh cơ cấu TD) sẽ góp phần vào việc thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự phát triển của ngành, lĩnh vực kinh tế đó. \n\nNghiên cứu một cách đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn cơ cấu TD NH Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp chuyển dịch cơ cấu TD của hệ thống NH theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2010-2015 là hết sức cấp thiết. Việc nghiên cứu đề tài thể hiện sự chủ động và tham gia tích cực của ngành NH vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chủ trương của Chính phủ và...
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÙ HỢP VỚI
MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1.1. Những vấn đề cơ bản về cơ cấu tín dụng Ngân hàng
Cơ cấu tín dụng là sự cấu thành theo tỷ lệ nhất định của các yếu tố cấu thành hoạt động tín dụng trong tổng thể hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng.
Cơ cấu tín dụng ngân hàng có những đặc điểm cơ bản sau:
- Phản ánh cơ cấu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ.
- Là một hệ thống các chỉ tiêu phản ánh một cách toàn diện về tình hình hoạt động của từng TCTD và cả hệ thống các TCTD cả về số lượng (quy mô hoạt động) và chất lượng hoạt động của một TCTD, của hệ thống ngân hàng và của nền kinh tế.
- Các chỉ tiêu về cơ cấu TD có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau…
Căn cứ vào các đặc điểm của cơ cấu tín dụng có thể phân thành một số loại cơ cấu TD điển hình như cơ cấu tín dụng theo: (i) đồng tiền cho vay; (ii) theo ngành, lĩnh vực kinh tế; (iii) theo thời hạn cho vay; (iv) theo chất lượng nợ; (v) theo đối tượng khách hàng; (vi). Ngoài ra, tùy theo yêu cầu quản lý, cơ cấu tín dụng được phân loại theo một số tiêu chí khác, như: Phân loại theo vùng lãnh thổ; theo từng danh mục các sản phẩm, lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế như cho vay thu mua lúa gạo, cà phê, cao su, lĩnh vực xuất khẩu, lĩnh vực bất động sản, tiêu dùng…
Các nhân tố chủ yếu sau ảnh hưởng đến cơ cấu TD gồm: Công tác quản trị điều hành Ngân hàng; Nguồn lực của ngân hàng; Tình hình phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước; Vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước; Quan hệ cung cầu và sự phát triển của thị trường tài chính tiền tệ; Môi trường đầu tư, kinh doanh của các ngành, lĩnh vực.
Chuyển dịch cơ cấu tín dụng là quá trình biến đổi các tỷ trọng cấu thành nên tổng thể tín dụng tại một thời điểm hoặc một giai đoạn so với một thời điểm hoặc một giai đoạn trong quá khứ.
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò, chức năng của tín dụng
Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc đầu tư TD có hoàn trả
Thứ ba, tín dụng thúc đẩy tích tụ và tập trung vốn, tập trung sản xuất
Thứ tư, tín dụng là công cụ tài trợ để phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Điều kiện cơ bản để chuyển dịch cơ cấu TD thành công gồm:
Điều kiện đối với Chính phủ và các cơ quan quản lý của Nhà nước; Đối với ngành ngân hàng; Đối với khách hàng của ngân hàng.
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu tín dụng ngân hàng (13 chỉ tiêu)
1. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đầu tư cho nền kinh tế
2. Mức độ đầu tư tín dụng so với GDP
3. Chỉ tiêu đòn bẩy tín dụng đối với tăng trưởng kinh tế
4. Tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ…
1.4.1.Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là cơ sở và là kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho thu nhập của các chủ thể kinh tế, của quốc gia không ngừng tăng lên thông qua việc dịch chuyển các luồng đầu tư vốn từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nợ có tỷ suất lợi nhuận cao. Tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại với cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu vốn đầu tư.
1.4.2. Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tiêu dùng của Engel
Theo Engel, kinh tế phát triển làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế (bắt đầu từ quan hệ cung - cầu hàng hóa trong lĩnh vực nông nghiệp), đến lượt nó, chính việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra tăng thu nhập để làm thay đổi cầu tiêu dùng kéo theo sự thay đổi tỷ trọng các ngành, khu vực sản xuất để điều chỉnh cung cho phù hợp làm thay đổi tỷ trọng các ngành, các khu vực để thiết lập nên cơ cấu kinh tế mới phù hợp hơn.
Lý thuyết cơ cấu lao động của Fisher
Fisher cho rằng nền kinh tế được chia làm 3 khu vực (i) Nông nghiệp và lâm nghiệp; (ii) Công nghiệp và xây dựng; (iii) Dịch vụ. Xu hướng phân bổ lao động của 3 khu vực này là tỷ trọng lao động khu vực I giảm trong khi 2 khu vực còn lại tăng, trong đó tăng mạnh ở khu vực III. Tỷ trọng phân bổ lao động bị tác động bởi cung - cầu lao động trong từng khu vực và nó bị chi phối chủ yếu bởi yếu tố NSLĐ và máy móc thiết bị. Khi nền kinh tế phát triển, việc phát triển kinh tế luôn gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu lao động.
1.4.3. Các mô hình phát triển kinh tế
Mô hình hai khu vực của Arthur Lewis
Arthur Lewis cho rằng để giải quyết vấn đề lợi nhuận giảm dần và lao động dôi dư trong nông nghiệp người ta áp dụng giải pháp chia nền kinh tế ra làm 2 khu vực: Khu vực cổ điển: Phản ánh khu vực nông nghiệp truyền thống và Khu vực hiện đại: Phản ánh khu vực công nghiệp hiện đại, khu vực này phải giải quyết lao động dư thừa trong khu vực cổ điển mà không ảnh hưởng đến mức tiền công và tiền lương của cả 2 khu vực. Theo ông, các yếu tố tăng trưởng kinh tế ban đầu gồm vốn đầu tư, lao động, đất đai sau có thêm yếu tố khoa học công nghệ trong đó yếu tố khoa học công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.
Mô hình 2 khu vực của Harry Oshima
Theo quan điểm của Harry Oshima, quá trình phát triển kinh tế gắn với việc giải quyết vấn đề việc làm qua 3 giai đoạn (1) Giải quyết vấn đề nông nhàn thời vụ (2) Tiến tới có việc làm đầy đủ và (3) Sau đó cần đầu tư cho nông nghiệp trước, đầu tư cho công nghiệp ở những ngành phục vụ sản xuất nông nghiệp sau đó đầu tư phát triển song song cả 2 khu vực nông nghiệp và công nghiệp.
1.4.4. Một số vấn đề rút ra khi nghiên cứu lý thuyết và các mô hình phát triển kinh tế
- Xuất phát điểm của phát triển kinh tế là sự phát triển của các bộ phận trong nền kinh tế, bắt đầu từ khu vực nông nghiệp. Mối quan hệ tương quan giữa các bộ phận trong nền kinh tế tạo thành cơ cấu kinh tế, để kinh tế phát triển bền vững, cần thiết lập được cơ cấu kinh tế hợp lý phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
- Cơ sở để phát triển kinh tế là giải quyết các vấn đề về các quan hệ cung - cầu trong lĩnh vực nông nghiệp trong đó vấn đề cốt lõi là giải quyết các vấn đề về cơ cấu lao động, thu nhập, nguyên liệu đầu vào, thị trường tiêu thụ, hạ tầng và tổ chức sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế là xác định đúng đối tượng đầu tư trong từng thời kỳ. NSLĐ và tỷ suất lợi nhuận bình quân tạo động lực và đóng vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, vai trò của vốn, khoa học công nghệ, sinh học ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong quá trình phát triển
- Khi nền kinh tế phát triển càng cao, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp càng phát triển thì tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp trong GDP ngày càng giảm thay vào đó là giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp thông qua sự phát triển công nghiệp chế biến.
- Lựa chọn đúng mô hình tăng trưởng kinh tế với cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ sở cho việc sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng, đảm bảo cho vốn tín dụng phát huy vai trò đòn bẩy trong tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.
1.5. Kinh nghiệm của các nước và bài học thực tiễn đối với Việt Nam
1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong lĩnh vực ngân hàng
Về tín dụng đối với nền kinh tế
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC) và Uỷ ban giám sát NH (CBRC) là hai cơ quan Chính phủ giúp thực thi những chính sách của Hội đồng Nhà nước liên quan đến hoạt động NH tài chính, hoặc ban hành những biện pháp hỗ trợ cho các ngành kinh tế khác phát triển. Đặc biệt, trong những năm gần đây, PBC cùng với CBRC, Bộ Tài chính và Uỷ ban cải
Về điều hành Chính sách tiền tệ với lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưỏng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững, PBC đã áp dụng nhiều biện pháp như: (1) Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đặc biệt; (2) Nâng lãi suất chuẩn; (3) Mở rộng nghiệp vụ thị trường mở; (4) Ban hành tiêu chí Quy mô tài chính xã hội; Thông qua chỉ tiêu này để đánh giá tình hình tài chính của các lĩnh vực ngành nghề đầu tư để điều chỉnh cơ cấu TD cho phù hợp; (5) Chính sách “Cửa sổ định hướng”.
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
(1) Kiểm soát chặt chẽ quy mô tài chính xã hội để có sự điều chỉnh hợp lý tăng trưởng TD để phục vụ tăng trưởng kinh tế theo ngành, lĩnh vực.
(2) Kiện toàn khung chính sách giám sát vĩ mô thận trọng, phối hợp với các công cụ để phát huy tác dụng cao nhất.
(3) Hướng dẫn các tổ chức tài chính nắm rõ các định hướng phát triển kinh tế, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia để có sự điều chỉnh trong cơ cấu tín dụng.
(4) Thúc đẩy thị trường tài chính phát triển và cải cách tổ chức tài chính, hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho hệ thống tài chính.
(5) Vì Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng, vì vậy có thể áp dụng mô hình “cửa sổ định hướng” trong việc điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng ở Việt Nam.
1.5.2. Kinh nghiệm của Mỹ về tín dụng đối với nền kinh tế
Cơ cấu TD của các NHTM ở Mỹ chủ yếu do cung cầu về vốn quyết định. Trong tổng TD của các NHTM, TD cho lĩnh vực bất động sản chiếm tỷ lệ lớn nhất (khoảng 50%) và đạt 14.605 tỷ USD vào năm 2008. Nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ tín dụng bất động sản:
- Chính sách khuyến khích mua nhà của Chính phủ Mỹ.
- Môi trường lãi suất thấp đã khuyến khích tăng cầu về bất động sản
- Chính sách tiền tệ nới lỏng của FED làm cho cung tiền tệ tăng mạnh.
- Giá nhà tăng liên tục, thúc đẩy đầu cơ trong bất động sản
Từ tháng 9/2008, bùng nổ khủng hoảng cho vay nhà duới chuẩn ở Mỹ và nhanh chóng lan ra nhiều nước trên thế giới. Bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng nhà đất dưới chuẩn của Mỹ là:
(1) Về cơ chế chính sách của các cơ quan Nhà nước
Chính sách tăng trưởng kinh tế quá nóng, duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài, cho vay dưới chuẩn cùng với nhiều ưu đãi khác cho thị trường bất động sản là nguyên nhân chính của khủng hoảng.
(2) Về cơ chế quản lý rủi ro
Việc cho vay dưới chuẩn cùng với chứng khoán hóa các khoản nợ cho vay bất động sản ngày càng tăng đã gia tăng nguy cơ đổ vỡ tín dụng
(3) Về việc đưa ra các sản phẩm tín dụng phức tạp
Việc đưa ra nhiều sản phẩm tín dụng phức tạp cho thị trường bất động sản mà không lường hết rủi ro của các sản phẩm đó đã làm cho khủng hoảng trầm trọng hơn.
1.5.3. Kinh nghiệm của một số nước về chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn
Về nguyên tắc các dự án có hiệu quả sẽ thu hút được các nguồn vốn đầu tư trong đó có nguồn vốn tín dụng. Vì vậy, nghiên cứu thực tế chuyển dịch cơ cấu đầu tư qua chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Canada, Hà Lan, có thể rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam như sau:
- Ổn định kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, công tác quy hoạch và khoa học công nghệ là điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư;
- Việc xác định cơ cấu huy động vốn trong nước – nước ngoài căn cứ vào nhu cầu vốn để phát triển kinh tế xã hội và mục tiêu; lĩnh vực; vùng; khu vực… cần thu hút đầu tư;
- Các DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc đầu tư vốn;
- Thuế, các ưu đãi đầu tư, thủ tục hành chính đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh cơ cấu nguồn vón đầu tư của mỗi quốc gia.
- Các chính sách thu hút đầu tư cần phải thân thiện với nhà đầu tư và giải quyết hài hoà các mối quan hệ lợi ích giữa các nhà đầu tư và cần được rà soát thường xuyên, chỉnh sửa cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Để tiếp cận và hấp thụ có hiệu quả vốn đầu tư cần có tổ chức, dịch vụ xúc tiến đầu tư đồng bộ từ trung ương đến địa phương và có đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình độ.
1.5.4. Tổng hợp các bài học kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu tín dụng phục vụ phát triển kinh tế xã hội
(1) Có nhiều nhân tố tác động đến phát triển kinh tế, TD là một trong các nhân tố cấu thành nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội.
(2) Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch, kế hoạch phát triển là cơ sở để vốn tín dụng đầu tư đúng hướng.
(3) Vốn TD thúc đẩy việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đầu tư để tối ưu hóa việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế…
(Còn tiếp...)
Người thực hiện: Lã Xuân Đảng
Viện Chiến lược Ngân hàng