Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Bùi Thị An - Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội.
Câu hỏi:
1. Kể từ cuối năm 2011, sau khi Thống đốc tuyên bố SJC sẽ trở thành thương hiệu vàng độc quyền của nhà nước và đặt mục tiêu để kéo giá vàng trong nước chỉ cao hơn thế giới từ 300-400 ngàn 1 lạng, tuy nhiên kể từ đó đến nay và đặc biệt từ khi Nghị định 24 ra đời thì sự chênh lệch giá giữa vàng trong nước và thế giới lại càng cao hơn (như ngày 3/11/2012 chênh lệch đó lên đến 3,74tr/lạng) và đặc biệt tất cả các thương hiệu vàng khác (phi SJC) ở trong nước (cũng hàm lượng 99,99) đều bị mất giá dẫn đến sự bất ổn của thị trường.
Vậy xin Thống đốc cho biết:
- Cơ sở (khoa học hay thực tiễn) nào mà NHNN lại chọn SJC làm thương hiệu vàng Quốc gia? Vì sao theo cơ chế thị trường mà giá vàng trong nước lại chênh với giá thế giới nhiều như vậy?
- Thống đốc có biết sự tổn thất đối với dân khi đổ xô đi dập lại vàng miếng khi không phải mác SJC không? Cũng như sự thiệt hại của các DN kinh doanh vàng khi mất cơ hội kinh doanh và bán hàng khi tồn trong kho lượng vàng khá lớn nhưng vì vàng của họ không phải SJC không?
- Theo Thống đốc tình hình này có bất thường hay không? Nếu là bất thường thì NHNN và cá nhân Thống đốc có giải pháp gì? Trong bao lâu sẽ giải quyết được?
- Việc SJC độc quyền và thâu tóm toàn bộ việc gia công, kinh doanh vàng miếng và tự quyết định giá mua và giá bán (không hề để ý giá thế giới) làm lợi cho ai? Có lợi ích nhóm ở đây hay không?
- Có nước nào trên thế giới quản lý theo mô hình này hay không?
- NHNN và Thống đốc có sẵn sàng chấp nhận để Quốc hội điều tra làm sáng tỏ việc này hay không? Trách nhiệm của Thống đốc như thế nào?
2. Tôi được biết trong việc thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngân hàng, trong một số trường hợp giống như thôn tính lẫn nhau (cá to nuốt và lấn át cá bé). Việc phân loại trong nội bộ ngân hàng là cần thiết để quản lý, tuy nghiên việc công bố công khai các ngân hàng kém thanh khoản cũng như yếu kém, phải sáp nhập (mặc dù họ đang hoạt động) làm cho khách hàng đổ xô đi rút tiền hay bị khống chế vay vốn... làm cho những ngân hàng này khốn khổ, thiệt hại.
Xin Thống đốc cho biết:
- Có hiện tượng trên hay không? Và nếu có thì có đúng pháp luật hay không?
- Trong việc tái cơ cấu này có lợi ích nhóm hay không?
- Trách nhiệm của Thống đốc như thế nào? NHNN và cá nhân thống đốc có chấp nhận để Quốc hội vào điều tra làm sáng tỏ, minh bạch vấn đề này không?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Bùi Thị An như sau:
1. Về quản lý vàng:
- Về việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng:
Trước đây, cơ chế quản lý thị trường vàng theo Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 09/12/1999 còn nhiều bất cập, trong đó không quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất vàng miếng. Vì vậy, với 8 doanh nghiệp được sản xuất vàng miếng và khoảng 12.000 doanh nghiệp kinh doanh vàng, thực tế Nhà nước khó kiểm soát hoạt động nhập khẩu vàng nguyên liệu, sản xuất vàng miếng lậu khi thị trường có biến động.
Trong những năm gần đây, với sự phát triển, thay đổi của nền kinh tế và tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 09/12/1999 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã bộc lộ nhiều hạn chế và không phù hợp. Khi giá vàng thế giới biến động mạnh, xuất hiện tình trạng thu gom ngoại tệ để nhập lậu vàng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường ngoại tệ, tỷ giá và gây bất ổn kinh tế vĩ mô.
Để khắc phục bất cập của thị trường vàng miếng, ngăn chặn ảnh hưởng biến động giá vàng lên tỷ giá, chính sách tiền tệ, kinh tế vĩ mô, NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 (Nghị định 24) theo hướng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ nguồn cung vàng miếng thông qua việc quy định Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng; độc quyền nhập khẩu, xuất khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.
Việc quy định Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng là biện pháp cần thiết để: (i) Kiểm soát chặt chẽ hoạt động sản xuất vàng miếng; chỉ có NHNN được phép sản xuất vàng miếng; không cho phép bất kỳ tổ chức, cá nhân nào được quyền sản xuất vàng miếng; (ii) Tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân thông qua các biện pháp tổ chức lại, quản lý chặt chẽ hoạt động mua bán vàng miếng.
- Về việc sử dụng thương hiệu vàng miếng SJC là thương hiệu vàng của Nhà nước và yêu cầu Công ty SJC gia công vàng miếng cho NHNN:
Việc sử dụng thương hiệu SJC để sản xuất vàng miếng và lựa chọn Công ty SJC thực hiện gia công vàng miếng cho NHNN là vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, phù hợp với thực tế thị trường vàng miếng. Trước khi Nghị định 24 được ban hành, trên thị trường có 8 thương hiệu vàng miếng khác nhau được lưu hành. Tuy nhiên, thị trường đã lựa chọn thương hiệu SJC là thương hiệu có uy tín. Vàng miếng SJC chiếm trên 90% lượng vàng miếng trong lưu thông.
Thứ hai, tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và xã hội. Việc xây dựng thương hiệu vàng miếng riêng của NHNN trong điều kiện hiện nay là không phù hợp vì: (i) Để có thương hiệu vàng miếng riêng, Nhà nước phải bỏ nhiều vốn đầu tư để xây dựng thương hiệu, tổ chức sản xuất vàng miếng thương hiệu của mình và (ii) Việc NHNN có thương hiệu vàng miếng riêng có thể gây tốn kém lớn (tài chính, thời gian) cho người dân khi chuyển đổi từ các thương hiệu vàng miếng khác sang thương hiệu của NHNN. Ngoài ra, việc lựa chọn thương hiệu vàng miếng khác SJC cũng dẫn đến chi phí chuyển đổi rất lớn của người dân.
Thứ ba, phù hợp với quy định của Nghị định 24. Khoản 3 Điều 16 Nghị định 24 cho phép NHNN quyết định lựa chọn phương thức sản xuất vàng miếng phù hợp trong thời kỳ. Như đã phân tích, trong điều kiện, vàng miếng SJC chiếm trên 90% trong lưu thông, việc lựa chọn thương hiệu SJC là phù hợp với điều kiện thực tiễn của giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, năm 2008 và năm 2010, vàng miếng của Công ty SJC đã được công nhận là Thương hiệu quốc gia trong khuôn khổ của chương trình xây dựng và phát triển Thương hiệu Quốc gia theo Quyết định 253/2003/QĐ-TTg. Thương hiệu vàng miếng SJC thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công ty SJC. Công ty SJC đã đăng ký bảo hộ đối với thương hiệu này theo đúng quy định của pháp luật. Việc NHNN sử dụng thương hiệu vàng miếng SJC để sản xuất vàng miếng của NHNN được thực hiện trên cơ sở có sự đồng ý UBND TP. Hồ Chí Minh (cơ quan đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại công ty SJC) và công ty SJC.
Việc sản xuất vàng miếng là sự độc quyền Nhà nước, không phải là độc quyền doanh nghiệp, Công ty SJC không còn được trực tiếp sản xuất vàng miếng. Từ khi Nghị định 24 có hiệu lực, Công ty SJC chỉ còn các chức năng là kinh doanh mua bán vàng miếng, sản xuất và kinh doanh mua bán vàng trang sức mỹ nghệ như các doanh nghiệp được phép khác. NHNN đã ban hành và công bố Quyết định 1623/QĐ-NHNN để quản lý và niêm phong các khuôn sản xuất vàng miếng của Công ty SJC; Công ty SJC chỉ được gia công vàng miếng SJC 99,99% theo chỉ đạo của NHNN về hạn mức, thời điểm và nguồn vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng và chịu sự giám sát và kiểm soát tuyệt đối của NHNN trong suốt quá trình thực hiện hoạt động gia công vàng miếng. Do đó, việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng thông qua sử dụng thương hiệu vàng miếng SJC và yêu cầu Công ty SJC gia công vàng miếng cho NHNN là phù hợp, đảm bảo mục tiêu của Nhà nước về tổ chức, sắp xếp lại thị trường vàng, đảm bảo lợi ích cho người dân và hoàn toàn không có lợi ích nhóm hay lợi ích cho Công ty SJC.
Về giá vàng miếng, trên thực tế, công ty SJC chỉ là một trong số rất nhiều doanh nghiệp, TCTD kinh doanh mua bán vàng miếng SJC. Giá vàng miếng SJC do cung cầu thị trường quyết định. Như đã đề cập ở trên, Công ty SJC không được tiếp tục sản xuất vàng miếng, chỉ được gia công vàng miếng khi được yêu cầu, do đó Công ty SJC không quyết định được giá mua, giá bán vàng miếng SJC trên thị trường.
- Về tác động của Nghị định 24:
Có thể thấy, việc triển khai Nghị định 24 cũng có tác động nhất định như (i) Việc thu hẹp các đơn vị được mua bán vàng miếng gây phản ứng từ một số doanh nghiệp hiện đang được tự do kinh doanh vàng miếng; (ii) Việc thu hẹp đối tượng được cấp phép sản xuất vàng miếng gây phản ứng nhất định từ phía các TCTD, doanh nghiệp không được tiếp tục sản xuất vàng miếng do chưa sẵn sàng ngay phương án chuyển mục đích sử dụng đối với nguồn nhân lực và cơ sở vật chất đã đầu tư để sản xuất vàng miếng. Các tác động này đã được NHNN xác định trong quá trình soạn thảo Nghị định 24 và NHNN cũng đã có biện pháp truyền thông, giải thích rõ định hướng, mục tiêu chính sách của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng.
Sau gần 6 tháng triển khai thực hiện Nghị định 24, với việc Nhà nước thông qua NHNN độc quyền tổ chức sản xuất vàng miếng, xuất khẩu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, thị trường vàng đã có chuyển biến tích cực, đặc biệt đối với thị trường vàng miếng. Trên thực tế, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới nhưng không như thời gian trước đây, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới không đi kèm với hiện tượng “sốt vàng”, cũng như không kéo theo hiện tượng nhập lậu vàng qua biên giới mặc dù NHNN không nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng và không thực hiện bình ổn giá vàng. Nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại tệ tương đối ổn định, không bị tác động tiêu cực bởi sự biến động của giá vàng.
Theo quy định tại Nghị định 24, Nhà nước công nhận quyền nắm giữ, mua, bán tất cả các thương hiệu vàng miếng hợp pháp của người dân, không có sự phân biệt đối xử và không hạn chế lưu thông các thương hiệu vàng miếng khác SJC. Nghị định 24 và các quy định khác của pháp luật không có quy định nào bắt buộc phải chuyển đổi các loại vàng miếng khác sang vàng miếng SJC. Trên thực tế, giá vàng miếng được hình thành trên cơ sở cung cầu của thị trường. Sau khi Nghị định 24 được ban hành, do yếu tố tâm lý muốn nắm giữ vàng miếng có thương hiệu và chất lượng cao, nhiều người dân, doanh nghiệp có nhu cầu chuyển đổi vàng miếng khác sang vàng miếng SJC. Do đó, để đáp ứng nhu cầu của người dân, TCTD và doanh nghiệp, ngày 23/8/2012 NHNN đã ban hành và công bố Quyết định 1623/QĐ-NHNN về tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng của NHNN.
Như vậy, về tổng thể việc triển khai Nghị định 24 bước đầu đã đạt được các mục tiêu, định hướng quản lý của Nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và không làm gia tăng lạm phát.
- Về chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế và chênh lệch giữa giá vàng miếng SJC và giá các vàng miếng thương hiệu khác:
Hiện nay, giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới là do hai nguyên nhân sau: (i) Các TCTD có huy động và cho vay vốn bằng vàng gia tăng mua vàng để giảm số dư huy động vàng đã sử dụng và (ii) NHNN không cấp phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Tuy nhiên, mặc dù vẫn còn chênh lệch cao giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới nhưng do NHNN đã triển khai thực hiện các biện pháp quản lý thị trường vàng theo Nghị định 24 nên không có hiện tượng thu gom ngoại tệ để nhập lậu vàng, do đó không gây bất ổn tới tỷ giá, thị trường ngoại tệ và kinh tế vĩ mô.
Với việc giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, có thể khẳng định người nắm giữ vàng bán vàng thời gian qua là có lời. Trong khi đó, TCTD trước đây đã hưởng lợi từ việc sử dụng vàng huy động và đã hạch toán lãi vào các năm trước, đến nay phải chấp nhận chi phí khi mua lại vàng trên thị trường để chi trả. Như vậy, thị trường vàng đã đi vào quỹ đạo, đúng định hướng quản lý của Nhà nước.
Trên thực tế, hiện nay có sự chênh lệch giữa vàng miếng SJC và giá vàng miếng thương hiệu khác là do:
Thứ nhất, giá vàng miếng được quyết định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường. Vàng miếng không phải là loại hàng hóa do Nhà nước định giá theo quy định của pháp luật. Giá mua bán vàng miếng do các bên thỏa thuận theo quan hệ cung cầu.
Thứ hai, giá vàng miếng được thị trường quyết định phụ thuộc vào chất lượng, uy tín của từng loại vàng miếng đang lưu thông. Trước khi Nghị định 24 được ban hành, thị trường đã lựa chọn thương hiệu SJC là thương hiệu có uy tín và chất lượng cao. Vàng miếng SJC chiếm trên 90% lượng vàng miếng trong lưu thông. Do vậy, giá vàng miếng SJC thường cao hơn giá vàng miếng các thương hiệu khác, kể cả trong điều kiện thị trường ổn định. Sự chênh lệch giữa giá vàng miếng SJC và giá của các thương hiệu vàng miếng khác đã có từ trước khi Nghị định 24 được ban hành. Ngoài ra, mức chênh lệch giá giữa các thương hiệu vàng khác so với vàng miếng SJC là khác nhau, một số thương hiệu vàng miếng có mức giá gần sát giá vàng miếng SJC, thương hiệu vàng miếng có mức giá thấp nhất cũng vẫn tương đương với giá vàng quốc tế quy đổi trong từng thời kỳ.
2. Về cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng:
2.1. Về hiện tượng thôn tính trong quá trình tái cơ cấu ngân hàng:
Trước hết phải khẳng định hoàn toàn không có hiện tượng các ngân hàng thực hiện thôn tính lẫn nhau (cá to nuốt và lấn át cá bé) trong việc thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngân hàng. Bởi lẽ quyết định NHTM phải thực hiện tái cơ cấu được dựa vào căn cứ sau đây:
- Các chỉ tiêu giám sát để đánh giá mức độ lành mạnh: Tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, cơ cấu tài sản, nguồn vốn, nợ xấu, mức độ rủi ro danh mục tín dụng và đầu tư,...
- Kết quả thanh tra toàn diện: Xác định thực trạng tài chính, hoạt động, quản trị, mức độ rủi ro thực tế và việc tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Kết quả kiểm toán độc lập: Xác định thực trạng tài chính và vốn của NHTM.
Tuỳ theo mức độ vi phạm pháp luật, mức độ lành mạnh và điều kiện cụ thể của NHTM, NHNN áp dụng biện pháp cơ cấu lại một cách phù hợp theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm an toàn tiền gửi của nhân dân, tài sản của Nhà nước, đồng thời giữ vững an toàn hệ thống ngân hàng. Việc cơ cấu lại NHTM được tiến hành một cách minh bạch, công khai và có đầy đủ căn cứ thực tiễn, pháp lý. Tất cả các giao dịch sáp nhập, hợp nhất NHTMCP đến nay hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện và thỏa thuận giữa các ngân hàng tham gia.
Cho đến nay, NHNN chưa chính thức công bố công khai tên ngân hàng yếu kém cụ thể hoặc ngân hàng thiếu thanh khoản, ngoại trừ báo cáo các cơ quan của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Đối với những ngân hàng phải sáp nhập, NHNN chỉ công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng sau khi việc sáp nhập đã được chấp thuận về mặt nguyên tắc. Việc công bố này là cần thiết và theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém, về cơ bản, Ngân hàng Nhà nước đã kiểm soát được tình hình của các ngân hàng thông qua các biện pháp nghiệp vụ. Việc chi trả tiền gửi của dân cư tại các ngân hàng diễn ra bình thường, không xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt với quy mô lớn, thanh khoản của các ngân hàng được cải thiện rõ rệt, huy động vốn không bị giảm và có thêm các khoản tiền gửi mới. Điều này cho thấy lòng tin của công chúng được duy trì ổn định, nguy cơ rủi ro gây mất an toàn hệ thống đã được giảm thiểu.
2.2. Về vấn đề lợi ích nhóm:
NHNN là cơ quan tham mưu, giúp Chính phủ xây dựng và báo cáo Bộ Chính trị thông qua Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 nhằm khắc phục những yếu kém, hạn chế hiện nay và hướng tới mục tiêu phát triển hệ thống các TCTD an toàn, lành mạnh và hiệu quả.
Quá trình triển khai cơ cấu lại hệ thống các TCTD và từng TCTD được tiến hành công khai minh bạch, có sự tham gia của các bộ, ngành và địa phương có liên quan. Nguyên tắc trong cơ cấu lại các TCTD là phải tuân thủ theo đúng pháp luật. NHNN chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, đồng thời không chịu sự chi phối của bất cứ nhóm lợi ích nào trong quá trình thực hiện cơ cấu lại các TCTD.
Việc tái cơ cấu các TCTD đến nay hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện. NHNN chưa áp dụng biện pháp xử lý bắt buộc nào như đặt vào kiểm soát đặc biệt, trực tiếp hoặc chỉ định TCTD khác mua lại hoặc sáp nhập, hợp nhất bắt buộc đối với TCTD yếu kém, mặc dù Đề án và pháp luật cho phép NHNN thực hiện các biện pháp này.
Trên cơ sở thực tế xây dựng và triển khai Đề án cơ cấu lại các TCTD như trên, có thể khẳng định NHNN không có lợi ích riêng, lợi ích cục bộ hay lợi ích nhóm ngoài lợi ích của sự phát triển an toàn, hiệu quả hệ thống các TCTD, lợi ích của nền kinh tế và của quốc gia.
3. Về trách nhiệm của Thống đốc:
Ngân hàng Nhà nước là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Cũng như các bộ, các cơ quan ngang bộ khác, hoạt động của NHNN chịu sự kiểm tra, giám sát, thanh tra của Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Bùi Thị An. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.