Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị.
Câu hỏi:
1. Tại phiên thảo luận của Quốc hội về Kinh tế - xã hội ngày 30/10/2012 vừa qua, Thống đốc có giải trình đến cuối năm 2015 sẽ đưa nợ xấu về dưới 3% theo đúng chuẩn mực quốc tế. Nhưng theo báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội đặt mục tiêu năm 2013 giảm nợ xấu của các NHTM xuống dưới 3%. Xin hỏi Thống đốc cho biết hai con số này có phải là một không? Nếu là một thì sao hai mốc thời gian lại khác nhau? Nếu không thì xin Thống đốc cho biết rõ sự khác nhau và cho biết một con số chính xác về nợ xấu hiện nay? Giải pháp xử lý của ngành NH trong thời gian tới?
2. Đề nghị Thống đốc cho biết số tiền chênh lệch thu được từ việc chuyển từ các thương hiệu vàng khác sang vàng SJC đến thời điểm này là bao nhiêu và do ai quản lý sử dụng? Thống đốc có báo cáo trước Quốc hội việc quản lý thị trường vàng yếu kém. Vậy trách nhiệm thuộc về ai? Và việc xử lý trách nhiệm đã được thực hiện đến đâu, xử lý như thế nào?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Hà Sỹ Đồng như sau:
1. Về vấn đề nợ xấu:
Đến ngày 30/6/2012, nợ xấu theo các tổ chức tín dụng báo cáo là 119.139 tỷ đồng, chiếm 4,49% so với tổng dư nợ tín dụng. Theo kết quả thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 6/2012 chiếm khoảng 8,8% tổng dư nợ tín dụng. Số nợ xấu này không phải mới phát sinh mà trên thực tế đã được tích lũy trong một thời gian dài, đặc biệt là thời kỳ nới lỏng chính sách kinh tế vĩ mô và bắt đầu lộ diện từ Quý IV/2011 trở lại đây khi môi trường kinh doanh xấu đi, tín dụng tăng chậm và Chính phủ triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại các tổ chức tín dụng.
Với sự quyết tâm của toàn hệ thống chính trị thể hiện qua các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI và các nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Ngân hàng Nhà nước tin tưởng rằng nợ xấu sẽ được cải thiện trong thời gian tới và cố gắng đến cuối năm 2015, nợ xấu giảm về mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng theo đúng thông lệ và chuẩn mực quốc tế.
Một số giải pháp đã và đang được triển khai nhằm xử lý và hạn chế nợ xấu gia tăng:
- Giải pháp về cơ chế, chính sách
+ Ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 cho phép các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ nguyên nhóm nợ đối với các khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ nếu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt sau khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ. Thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN, đến ngày 30/6/2012 có 36,5 ngàn tỷ đồng dư nợ tín dụng được cơ cấu lại và giữ nguyên nhóm nợ. Giải pháp này đã giúp giảm bớt áp lực trả nợ, lãi phạt và tăng khả năng tiếp cận vay vốn ngân hàng đối với khách hàng vay.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp: (i) xem xét cấp tín dụng hợp vốn theo quy định tại Thông tư số 42/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước đối với các dự án lớn có hiệu quả; (ii) tích cực thực hiện các giải pháp xử lý nợ, thực hiện mua bán nợ theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày 21/2/2006 của Ngân hàng Nhà nước, báo cáo Ngân hàng Nhà nước các khoản nợ muốn mua/bán nhưng chưa tìm được đối tác.
+ Điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ và lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời bảo đảm an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng, góp phần giúp doanh nghiệp và nền kinh tế tiếp tục vận hành và tăng trưởng, từ đó góp phần đảm bảo nguồn tài chính cho doanh nghiệp và hạn chế sự gia tăng của nợ xấu.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp, cấp tín dụng; xây dựng quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ hơn và mở rộng phạm vi tài sản có tiềm ẩn rủi ro tín dụng phải phân loại và trích lập dự phòng rủi ro để phản ánh đầy đủ hơn thực trạng nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng (dự kiến ban hành trong quý IV/2012). Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng (các tỷ lệ an toàn, uỷ thác và nhận uỷ thác,...) nhằm hạn chế rủi ro cho các tổ chức tín dụng.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu thông qua sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm.
+ Tăng cường công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng trong việc thực hiện các giải pháp cơ cấu lại, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng. Qua công tác thanh tra các tổ chức tín dụng trong năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã buộc các tổ chức tín dụng phải thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng đầy đủ để tạo nguồn xử lý nợ xấu, đồng thời yêu cầu ngân hàng vi phạm giới hạn tỷ trọng tín dụng phải thu hồi nợ đã góp phần tạo nguồn mở rộng tín dụng cho các đối tượng không khuyến khích.
- Các giải pháp về phía các tổ chức tín dụng
+ Đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp;
+ Chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ và xem xét miễn, giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có triển vọng tốt sau cơ cấu lại nợ để khách hàng giảm bớt khó khăn tài chính tạm thời và nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo nguồn thu mới trả nợ tổ chức tín dụng.
+ Tích cực xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ để thu hồi vốn, giảm nợ xấu. Tiếp tục đầu tư, cho vay đối với khách hàng có nợ xấu do khó khăn tạm thời nhưng có triển vọng phục hồi và phát triển tốt; Chuyển nợ thành vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp vay, đồng thời tham gia cơ cấu lại doanh nghiệp.
+ Tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định của pháp luật. Tính đến cuối tháng 8/2012, số dự phòng rủi ro đã được các tổ chức tín dụng trích lập chưa sử dụng là 72.907 tỷ đồng, tăng hơn 14 ngàn tỷ đồng so với cuối năm 2011. Trong 8 tháng đầu năm 2012, số nợ xấu được các tổ chức tín dụng xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro là gần 8 ngàn tỷ đồng.
- Các giải pháp hỗ trợ:
Hiện nay, để hỗ trợ xử lý nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng, trình Bộ Chính trị, Chính phủ Đề án thành lập công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu một cách tập trung với quy mô lớn, trong đó tập trung xử lý nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản. Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương phối hợp triển khai thêm các giải pháp hỗ trợ xử lý nợ xấu như:
+ Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường, giảm lượng hàng tồn kho, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, kích thích đầu tư và tiêu dùng trong nước, đồng thời có giải pháp hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
+ Đối với một số khoản vay thế chấp bằng bất động sản, công trình sắp hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa bán được, Chính phủ xem xét mua lại các bất động sản đó để phục vụ cho mục đích an sinh xã hội và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
+ Các bộ, ngành, địa phương hỗ trợ các tổ chức tín dụng hoàn thiện các hồ sơ pháp lý liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay để sớm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để giúp ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo, thu hồi nợ nhanh chóng, thuận tiện. Đổi mới, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự để bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng và giúp tổ chức tín dụng thu hồi tài sản sớm nhất.
+ Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai có hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ.
+ Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế, phí liên quan đến mua bán nợ xấu và các tài sản bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng. Bộ Tài chính xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt phương án xử lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
+ Tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu và lành mạnh hoá tài chính của các doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh có nhiều khó khăn, song nhờ chủ động triển khai kịp thời các chính sách, biện pháp ngăn chặn và xử lý nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, nợ xấu có chiều hướng tăng chậm lại từ quý II/20121. Điều này cho thấy quan điểm và giải pháp xử lý nợ xấu của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước là hợp lý và đúng hướng.
2. Về vấn đề vàng:
2.1. Về quản lý thị trường vàng:
Giai đoạn trước ngày 03/4/2012 (là thời điểm Nghị định 24/2012/NĐ-CP ra đời), thị trường vàng Việt Nam biến động tương đối phức tạp và có yếu tố đầu cơ, khung pháp lý về hoạt động kinh doanh vàng của nước ta còn nhiều bất cập. Mặc dù, trong Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 có quy định chức năng của Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý hoạt động kinh doanh vàng, nhưng tại các văn bản dưới luật (như Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 9/12/1999 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng) thì lại không có các quy định quản lý, kiểm soát thị trường vàng miếng; vàng miếng được coi là hàng hóa thông thường. Do đó, trong nhiều giai đoạn, đặc biệt khi giá vàng thế giới biến động mạnh, nhiều đối tượng có hành vi làm giá, đầu cơ gây khan hiếm cung giả tạo, xuất hiện tình trạng thu gom ngoại tệ để nhập lậu vàng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường ngoại tệ, tỷ giá và gây bất ổn kinh tế vĩ mô.
Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012. Nghị định 24 được ban hành, với sự kết hợp của Nghị định 95/2011/NĐ-CP và các biện pháp Ngân hàng Nhà nước đã triển khai thực hiện, thị trường vàng trong nước có nhiều chuyển biến đáng kể so với trước kia. Từ tháng 4/2012 đến nay, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới, có thời điểm lên đến 3 triệu đồng/lượng, nhưng không như thời gian trước đây, khoảng cách lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới không đi kèm với hiện tượng “sốt vàng”, cũng như không kéo theo hiện tượng nhập lậu vàng qua biên giới. Nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại tệ tương đối ổn định, không bị tác động tiêu cực bởi sự biến động của giá vàng. Tình trạng “vàng hóa, đôla hóa” đã được ngăn chặn và bước đầu đã huy động được nguồn lực này, chuyển hóa thành VND đưa vào hệ thống ngân hàng, phục vụ sản xuất kinh doanh và tạo thanh khoản cho nền kinh tế trong thời gian khó khăn vừa qua. Những vấn đề dư luận về vàng thời gian qua là do cách hiểu khác nhau và Ngân hàng Nhà nước đã tích cực thông tin, tuyên truyền phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
2.2. Về giá vàng miếng:
Giá vàng miếng được quyết định bởi cung cầu trên thị trường và thương hiệu của từng loại vàng miếng đang lưu thông. Chênh lệch giữa giá vàng miếng SJC và giá của các thương hiệu vàng miếng khác đã có từ trước khi Nghị định 24 được ban hành. Đồng thời, mức chênh lệch giữa giá vàng miếng các thương hiệu khác so với giá vàng miếng SJC là khác nhau, một số thương hiệu vàng miếng có mức giá gần sát giá vàng miếng SJC, một số thương hiệu vàng miếng khác tuy có mức giá thấp nhất nhưng cũng vẫn tương đương với giá vàng quốc tế quy đổi trong từng thời kỳ.
Theo quy định tại Nghị định 24, Nhà nước công nhận quyền nắm giữ, mua, bán tất cả các thương hiệu vàng miếng hợp pháp của người dân, không có sự phân biệt đối xử và không hạn chế lưu thông các thương hiệu vàng miếng khác SJC. Pháp luật không có quy định bắt buộc vàng miếng khác SJC phải chuyển đổi sang vàng miếng SJC. Giá vàng miếng SJC và giá vàng miếng khác SJC được quyết định trên cơ sở cung cầu của thị trường.
Để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi vàng miếng khác SJC sang vàng miếng SJC của người dân, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp kinh doanh vàng, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành và công bố Quyết định 1623/QĐ-NHNN ngày 23/8/2012 về tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng của Ngân hàng Nhà nước. Theo Quyết định này, Công ty SJC thực hiện gia công vàng miếng SJC từ vàng miếng SJC móp méo và vàng miếng thương hiệu khác theo quy trình công khai, minh bạch và có sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước. Mức phí gia công vàng miếng SJC là 50.000 đồng/lượng.
Doanh nghiệp mua vàng miếng thương hiệu khác SJC và đăng ký chuyển đổi phải chịu trách nhiệm về chất lượng vàng miếng đưa vào gia công và phải chấp nhận rủi ro biến động giá vàng trong thời gian chờ gia công, chuyển đổi thành vàng miếng SJC. Trên cơ sở kết quả kinh doanh mua bán vàng miếng, doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.