Tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Mai Thị Ánh Tuyết - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang.
Câu hỏi:
Chính sách tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn ban hành đã phát sinh nhiều bất cập, thủ tục phức tạp, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện nay, điển hình như: Quyết định 497/QĐ-TTg ngày 17/04/2009 về việc hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp…; Quyết định 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 về chính sách hỗ trợ nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch đối với nông, thủy sản…do thời gian hỗ trợ quá ngắn, quy định giá trị sản xuất trong nước trên 60% rất khó thực hiện trong khi nhu cầu vốn rất lớn.
Đề nghị Thống đốc Ngân hàng cho biết giải pháp tháo gỡ vấn đề này để người sản xuất, doanh nghiệp tiếp cận tốt được vốn vay tác động nông nghiệp, nông thôn phát triển đạt được mục tiêu Chính phủ và địa phương đề ra.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết như sau:
1. Cơ chế cho vay hỗ trợ lãi suất đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 do Bộ Công thương đề xuất trên cơ sở nhằm khuyến khích sản xuất trong nước. Trong quá trình thực hiện, một vấn đề phát sinh là điều kiện, thủ tục cho vay hỗ trợ lãi suất chặt chẽ hơn so với cho vay theo cơ chế thông thường, như chỉ cho vay để mua hàng hoá sản xuất trong nước, thủ tục vay phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã về đối tượng và mục đích sử dụng vốn vay... Để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn hỗ trợ lãi suất thuộc lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 497/QĐ-TTg; Trong thực tế triển khai thực hiện, Ngân hàng Nhà nước không nhận được phản ánh về khó khăn, vướng mắc liên quan đến Quyết định số 2213/QĐ-TTg.
2. Về Quyết định số 63/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 03/2011/TT-NHNN ngày 08/3/2011 hướng dẫn việc thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, trong đó giao Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là đơn vị thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ này. Tiếp đó, ngày 02/12/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 65/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định 63/QĐ-TTg, trong đó đã mở rộng đối tượng thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ là các ngân hàng thương mại nhà nước. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thiện Thông tư hướng dẫn, sẽ ban hành trong thời gian gần đây.
3. Để hỗ trợ người sản xuất, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp, nông thôn, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách liên quan, như: (i) Áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức thấp đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn cao1; (ii) Dành lượng tiền cung ứng hàng năm để tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn với sự ưu tiên về thời hạn và nguồn vốn cho vay; (iii) Giảm lãi suất cho vay, quy định trần lãi suất cho vay đối với một số lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nông nghiệp, nông thôn; (iv) Chỉ đạo các tổ chức tín dụng đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay, nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay và không trái với quy định của pháp luật, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, áp dụng nhiều phương thức cho vay và mở rộng cho vay đối với hộ nông dân không phải thế chấp tài sản theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP và Thông tư số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010; (v) Chỉ đạo tổ chức tín dụng rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ vốn vay; điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt; điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành; xem xét miễn, giảm lãi phải trả đối với khách hàng bị tổn thất về tài sản dẫn đến khó khăn về tài chính theo quy định pháp luật.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Mai Thị Ánh Tuyết. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.
1 Áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/5 tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường đối với tiền gửi Việt Nam đồng nếu tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tổng dư nợ từ 40-70% và bằng 1/20 đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ trên 70%.