Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa - Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi
1. Dư nợ tín dụng và nợ xấu (số tuyệt đối và tỷ lệ) của hệ thống ngân hàng Việt Nam, phân chia theo cơ cấu sở hữu, tính đến ngày 31/10/2012.
2. Thống đốc trả lời chất vấn là không biết nguồn tiền dùng để thâu tóm ngân hàng Sacombank. Nếu vậy làm sao có thể chống rửa tiền khi không kiểm soát được một lượng tiền lớn như vậy?
3. Dư luận cử tri cho rằng, chủ trương quản lý vàng theo Nghị định 24 vừa qua đã:
- Gây thiệt hại cho người dân đang sở hữu vàng phi SJC, gây thiệt hại cho các nhà kinh doanh vàng SJC; tạo ra lợi thế và lợi nhuận khổng lồ cho các công ty con của SJC và những người đang sở hữu vàng SJC;
- Không đạt được mục tiêu huy động vàng trong dân. Xin cho biết nhận định trên đúng không và cho biết giải pháp của Thống đốc.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Trương Trọng Nghĩa như sau:
1. Số liệu về dư nợ tín dụng và nợ xấu:
- Về dư nợ tín dụng: Dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng tính đến 31/10/2012 là 2.942.927 tỷ đồng, tăng 3,48% so với 31/12/2011.
- Về nợ xấu: Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng (TCTD), nợ xấu của các TCTD đến 30/9/2012 là 133.060 tỷ đồng, chiếm 4,93% tổng dư nợ tín dụng. Trong đó, chi tiết theo loại hình sở hữu TCTD như sau: Khối các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước: 61.491 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 46,21% tổng nợ xấu của hệ thống các TCTD; Khối NHTM cổ phần: 48.192 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 36,22% tổng nợ xấu của hệ thống các TCTD; Khối NHLD, NH 100% vốn nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 5.313 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,99% tổng nợ xấu của hệ thống các TCTD; Khối TCTD phi ngân hàng (công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính): 17.474 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 13,13% tổng nợ xấu của hệ thống các TCTD; Khối Quỹ tín dụng nhân dân: 589 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,44% tổng nợ xấu của hệ thống các TCTD.
Tuy nhiên, theo kết quả giám sát của NHNN, nợ xấu của các TCTD chiếm 8,82% dư nợ tín dụng của các TCTD Việt Nam.
2. Về ý kiến liên quan đến việc “làm sao có thể chống rửa tiền khi không kiểm soát được nguồn tiền thâu tóm Sacombank?”:
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4, Luật Phòng chống rửa tiền (Luật số 07/2012/QH13 ngày 18/6/2012): “Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có, bao gồm: Hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự; Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản.”
Tại Điểm c, Khoản 1, Điều 54 Luật các TCTD 2010 quy định rõ nghĩa vụ đối với cổ đông của TCTD như sau: “cổ đông của tổ chức tín dụng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của nguồn vốn góp, mua cổ phần tại tổ chức tín dụng”.
Đồng thời, theo quy định tại Khoản 6, Điều 36, Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 quy định về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại: “Việc chuyển nhượng cổ phần của ngân hàng niêm yết được thực hiện theo các quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán”. Đối với các cổ phiếu đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán như cổ phiếu Sacombank thì việc chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông được thực hiện theo quy trình giao dịch chứng khoán theo hướng dẫn của Bộ tài chính và Ủy ban Chứng khoán nhà nước.
Theo kết quả thanh tra, NHNN chưa phát hiện vụ việc nào dùng “nguồn tiền rửa tiền” để mua cổ phần, cổ phiếu.
3. Về vấn đề quản lý vàng theo Nghị định 24/2012/NĐ-CP:
- Về ý kiến ”chủ trương quản lý vàng theo Nghị định 24/2012/NĐ-CP gây thiệt hại cho người dân đang sở hữu vàng phi SJC, tạo ra lợi thế và lợi nhuận khổng lồ cho các công ty con SJC và những người đang sở hữu vàng SJC”:
Theo quy định tại Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, Nhà nước công nhận quyền nắm giữ, mua, bán tất cả các thương hiệu vàng miếng hợp pháp của người dân, không có sự phân biệt đối xử và không hạn chế lưu thông các thương hiệu vàng miếng khác SJC. Việc sản xuất vàng miếng là do Nhà nước thông qua NHNN độc quyền tổ chức thực hiện, không có tổ chức, cá nhân nào được sản xuất vàng miếng, kể cả Công ty SJC.
Trước khi Nghị định 24/2012/NĐ-CP được ban hành, thương hiệu vàng SJC đã được thị trường lựa chọn là thương hiệu có uy tín và chất lượng cao. Vàng miếng SJC chiếm trên 90% lượng vàng miếng trong lưu thông, giá vàng miếng SJC kể cả trong điều kiện thị trường ổn định cũng thường cao hơn giá của các loại vàng miếng khác. Do đó, trên cơ sở quy luật của thị trường và để tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và cho xã hội, Ngân hàng Nhà nước đã trình và được Chính phủ cho phép sử dụng thương hiệu vàng miếng SJC là thương hiệu vàng của Nhà nước và yêu cầu Công ty SJC gia công vàng miếng cho Ngân hàng Nhà nước. Công ty SJC không được sản xuất vàng miếng mà chỉ được gia công vàng miếng SJC 99,99% khi được yêu cầu.
Giá vàng miếng được quyết định bởi cung cầu trên thị trường và thương hiệu của từng loại vàng miếng đang lưu thông. Có thể thấy chênh lệch giữa giá vàng miếng SJC và giá của các thương hiệu vàng miếng khác đã có từ trước khi Nghị định 24 được ban hành. Đồng thời, mức chênh lệch giữa giá vàng miếng các thương hiệu khác so với giá vàng miếng SJC là khác nhau, một số thương hiệu vàng miếng có mức giá gần sát giá vàng miếng SJC, một số thương hiệu khác tuy có mức giá thấp nhất nhưng cũng vẫn tương đương với giá vàng quốc tế quy đổi trong từng thời kỳ.
Để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi vàng miếng khác SJC sang vàng miếng SJC của người dân, TCTD và doanh nghiệp, NHNN đã ban hành Quyết định 1623/QĐ-NHNN ngày 23/8/2012 về tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng của NHNN. Theo đó, NHNN đã yêu cầu Công ty SJC gia công vàng miếng SJC từ vàng miếng SJC móp méo và vàng miếng thương hiệu khác; quá trình gia công vàng miếng SJC được thực hiện một cách công khai, minh bạch và diễn ra dưới sự giám sát chặt chẽ của NHNN. Việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng thông qua sử dụng thương hiệu vàng miếng SJC và yêu cầu Công ty SJC gia công vàng miếng cho Ngân hàng Nhà nước là phù hợp, đảm bảo mục tiêu của Nhà nước về tổ chức, sắp xếp lại thị trường vàng, đảm bảo lợi ích cho người dân và hoàn toàn không có lợi ích nhóm hay lợi ích cho Công ty SJC
- Về mục tiêu huy động vàng trong dân:
Từ năm 2000, thực hiện chủ trương khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, NHNN đã ban hành Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN1 cho phép các TCTD được huy động và cho vay vốn bằng vàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá vàng thế giới biến động mạnh, việc huy động vốn bằng vàng gây rủi ro cho chính TCTD và người vay vốn bằng vàng. Đồng thời, để thực hiện chủ trương xóa bỏ tình trạng "đô la hóa, vàng hóa” trong nền kinh tế, tiến tới chuyển hóa quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua, bán vàng, kể từ năm 2011 đến nay, NHNN đã ban hành các văn bản chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng. Đây là biện pháp cần thiết để phòng tránh rủi ro cho TCTD cũng như cho người vay vốn bằng vàng.
Để đảm bảo các quyền hợp pháp của người dân đối với vàng miếng như mua, bán, nắm giữ, bảo đảm an toàn thông qua dịch vụ giữ hộ của các TCTD và việc mua, bán vàng miếng được diễn ra trên thị trường có tổ chức, NHNN sẽ khẩn trương tổ chức lại mạng lưới mua, bán vàng miếng thông qua việc cấp phép cho các doanh nghiệp và TCTD đáp ứng đủ các điều kiện thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng trên thị trường theo quy định tại Nghị định 24 và Thông tư 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn một số điều của Nghị định 24. Khi đó, NHNN sẽ tham gia thị trường với vai trò là người mua bán cuối cùng trên thị trường vàng miếng với các tổ chức được phép kinh doanh vàng miếng nhằm đảm bảo sự lưu thông của thị trường và tăng Dự trữ Ngoại hối Nhà nước bằng vàng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ nhằm tăng vị thế của đồng Việt Nam. Đây là kênh chính để huy động nguồn lực vàng trong nền kinh tế nhằm mục tiêu chuyển hóa nguồn lực vàng, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.
4. Về việc bỏ ân hạn thuế tạm nhập tái xuất:
Nội dung chất vấn của Đại biểu thuộc thẩm quyền trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Vì vậy, NHNN kính đề nghị Đại biểu chuyển nội dung chất vấn này cho Bộ trưởng Bộ Tài chính để Bộ trưởng trả lời Đại biểu.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.