Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Phạm Thị Mỹ Ngọc - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình.
Câu hỏi
1. Thống đốc đã từng trả lời tại phiên chất vấn của UBTVQH được truyền hình trực tuyến rằng: tỷ lệ nợ xấu đáng lo ngại nhưng chưa đến mức hốt hoảng vì trong tổng số 202.000 tỷ đồng nợ xấu đã có gần 7.000 tỷ đồng được trích lập dự phòng rủi ro, số còn lại trên 130.000 tỷ đồng thì giá trị tài sản đảm bảo cao hơn rất nhiều. Nhưng tại sao việc xử lý nợ xấu vấn còn lúng túng, Thống đốc đã có giải pháp gì để giải quyết tình trạng nợ xấu hiện nay? Có ý kiến cho rằng cán bộ ngân hàng cấu kết với khách hàng để thẩm định giá trị tài sản đảm bảo cao hơn rất nhiều giá trị thực của tài sản được vay, đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu. Có hay không hiện tượng trên và Thống đốc có biện pháp gì để xử lý tình trạng trên cũng như xử lý cán bộ vi phạm?
2. Có ý kiến cho rằng việc cơ cấu lại Ngân hàng thương mại và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng có biểu hiện cơ chế xin – cho và lợi ích nhóm. Thống đốc có chia sẻ gì về ý kiến trên và xin Thống đốc cho biết căn cứ tiêu chí nào để tái cơ cấu và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại?
3. Nhà nước có chủ trương độc quyền vàng miếng nhưng trong thời gian vừa qua Ngân hàng Nhà nước lại cho một công ty kinh doanh vàng thì đây có phải là lợi ích nhóm không?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Phạm Thị Mỹ Ngọc như sau:
1. Về vấn đề nợ xấu:
1.1. Về ý kiến:“Tại sao việc xử lý nợ xấu vẫn còn lúng túng và giải pháp giải quyết nợ xấu”:
Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn chủ động trong việc đề xuất và triển khai các giải pháp từng bước kiềm chế nợ xấu gia tăng và xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, xử lý nợ xấu lần này ở Việt Nam khác những lần trước đây và khác với nhiều nước trên thế giới ở chỗ khả năng cấp vốn của Chính phủ để xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng là rất khó khăn và hạn chế. Trong khi đó, việc xử lý nợ xấu hiện nay diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như: kinh tế suy giảm, lạm phát có nguy cơ tăng trở lại, ngân sách thâm hụt, nợ công cao nên việc huy động nguồn lực từ xã hội để xử lý nợ xấu cũng không dễ dàng.
Nợ xấu là vấn đề không chỉ của riêng hệ thống ngân hàng mà là vấn đề của cả nền kinh tế. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã và đang phối hợp với các Bộ, ngành địa phương triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm xử lý nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng. Cụ thể:
- Giải pháp về cơ chế, chính sách:
+ Ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 cho phép các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ nguyên nhóm nợ đối với các khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ nếu TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt sau khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ. Thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN, đến ngày 30/6/2012 có 36,5 ngàn tỷ đồng dư nợ tín dụng được cơ cấu lại và giữ nguyên nhóm nợ. Giải pháp này đã giúp giảm bớt áp lực trả nợ, lãi phạt và tăng khả năng tiếp cận vay vốn ngân hàng đối với khách hàng vay.
+ Chỉ đạo các TCTD về việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó yêu cầu các TCTD: (i) xem xét cấp tín dụng hợp vốn theo quy định tại Thông tư số 42/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của NHNN đối với các dự án lớn có hiệu quả; (ii) tích cực thực hiện các giải pháp xử lý nợ, thực hiện mua bán nợ theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày 21/2/2006 của NHNN, báo cáo NHNN các khoản nợ muốn mua/bán nhưng chưa tìm được đối tác.
+ Điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ và lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời bảo đảm an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng, góp phần giúp doanh nghiệp và nền kinh tế tiếp tục vận hành và tăng trưởng, từ đó góp phần đảm bảo nguồn tài chính cho doanh nghiệp và hạn chế sự gia tăng của nợ xấu.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp, cấp tín dụng; xây dựng quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ hơn và mở rộng phạm vi tài sản có tiềm ẩn rủi ro tín dụng phải phân loại và trích lập dự phòng rủi ro để phản ánh đầy đủ hơn thực trạng nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng (dự kiến ban hành trong quý IV/2012). Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng (các tỷ lệ an toàn, uỷ thác và nhận uỷ thác,...) nhằm hạn chế rủi ro cho các TCTD.
+ Chỉ đạo các TCTD tích cực phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu thông qua sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm.
+ Tăng cường công tác thanh tra, giám sát các TCTD trong việc thực hiện các giải pháp cơ cấu lại, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và chấp hành các quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng. Qua công tác thanh tra các TCTD trong năm 2012, NHNN đã buộc các TCTD phải thực hiện phân loại nợ, trích lập đầy đủ dự phòng đầy đủ để tạo nguồn xử lý nợ xấu, đồng thời yêu cầu ngân hàng vi phạm giới hạn tập trung tín dụng phải thu hồi nợ đã góp phần tạo nguồn mở rộng tín dụng cho các đối tượng khác.
- Các giải pháp về phía các TCTD:
+ Đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp;
+ Chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ và xem xét miễn, giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có triển vọng tốt sau cơ cấu lại nợ để khách hàng giảm bớt khó khăn tài chính tạm thời và nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo nguồn thu mới trả nợ TCTD.
+ Tích cực xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ để thu hồi vốn, giảm nợ xấu. Tiếp tục đầu tư, cho vay đối với khách hàng có nợ xấu do khó khăn tạm thời nhưng có triển vọng phục hồi và phát triển tốt; Chuyển nợ thành vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp vay, đồng thời tham gia cơ cấu lại doanh nghiệp.
+ Tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định của pháp luật. Đến cuối tháng 9/2012, số dự phòng rủi ro đã được các TCTD trích lập chưa sử dụng là 75,6 ngàn tỷ đồng (tăng 16,5 ngàn tỷ đồng so với cuối tháng 12/2011); TCTD đã xử lý nợ xấu bằng dự phòng 11,6 ngàn tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2012. Trong thời gian tới, các TCTD phải thực hiện nghiêm túc việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ để tạo nguồn xử lý nợ xấu.
Trong thời gian tới, các TCTD tích cực phối hợp với khách hàng vay thực hiện cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu, bán nợ cho các tổ chức, đặc biệt là bán nợ cho các công ty mua bán nợ và công ty quản lý tài sản.
- Các giải pháp hỗ trợ:
Hiện nay, để hỗ trợ xử lý nợ xấu, NHNN đang xây dựng, trình Bộ Chính trị, Chính phủ Đề án thành lập công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu một cách tập trung với quy mô lớn, trong đó tập trung xử lý nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản. Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương sẽ phối hợp triển khai thêm các giải pháp hỗ trợ xử lý nợ xấu như:
+ Các Bộ, ngành và địa phương cần triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường, giảm lượng hàng tồn kho, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, kích thích đầu tư và tiêu dùng trong nước, đồng thời có giải pháp hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
+ Đối với một số khoản vay thế chấp bằng bất động sản, công trình sắp hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa bán được, Chính phủ xem xét mua lại các bất động sản đó để phục vụ cho mục đích an sinh xã hội và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
+ Các bộ, ngành, địa phương hỗ trợ các TCTD hoàn thiện các hồ sơ pháp lý liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay để sớm xử lý nợ xấu của các TCTD. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để giúp ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo, thu hồi nợ nhanh chóng, thuận tiện. Đổi mới, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự để bảo vệ quyền chủ nợ của TCTD và giúp TCTD thu hồi tài sản sớm nhất.
+ Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai có hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ.
+ Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với NHNN xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế, phí liên quan đến mua bán nợ xấu và các tài sản bảo đảm tiền vay của TCTD. Bộ Tài chính xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt phương án xử lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
+ Tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu và lành mạnh hoá tài chính của các doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh có nhiều khó khăn, song nhờ chủ động triển khai kịp thời các chính sách, biện pháp ngăn chặn và xử lý nợ xấu của NHNN và các TCTD, nợ xấu có chiều hướng tăng chậm lại từ quý II/2012.
1.2. Về việc cán bộ ngân hàng câu kết với khách hàng để thẩm định giá trị tài sản bảo đảm cao hơn nhiều so với giá trị thực: Đây là hiện tượng có thực ở một số ngân hàng nhưng không phải là hiện tượng phổ biến và cũng không phải là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao trong hệ thống ngân hàng1.
Để xử lý tình trạng trên, trong thời gian qua NHNN đã tăng cường công tác thanh tra, giám sát để phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, các rủi ro và yếu kém của TCTD. Trong năm 2012, NHNN đã tiến hành đồng bộ phương thức thanh tra toàn diện pháp nhân gần 32 TCTD, qua đó đã phát hiện ra nhiều vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và buộc NHTM phải tái cơ cấu.
Đối với các cán bộ ngân hàng vi phạm quy định về định giá tài sản bảo đảm trong cho vay sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật tuỳ theo mức độ vi phạm.
2. Về ý kiến: việc cơ cấu lại NHTM và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng có biểu hiện cơ chế xin – cho và lợi ích nhóm; tiêu chí để tái cơ cấu và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các NHTM?
Ý kiến cho rằng việc cơ cấu lại NHTM và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng có biểu hiện xin cho và lợi ích nhóm là hoàn toàn không có cơ sở, bởi vì việc cơ cấu lại NHTM hay giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng xác định trên cơ sở năng lực và mức độ lành mạnh của NHTM theo kết quả thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN.
2.1. Về tiêu chí để tái cơ cấu NHTM:
Tuỳ theo mức độ vi phạm pháp luật, mức độ lành mạnh của NHTM và điều kiện cụ thể của NHTM, NHNN áp dụng biện pháp cơ cấu lại một cách phù hợp theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm an toàn tiền gửi của nhân dân, tài sản của Nhà nước, đồng thời giữ vững an toàn hệ thống ngân hàng. Việc cơ cấu lại NHTM được tiến hành một cách minh bạch, công khai và có căn cứ thực tiễn, pháp lý. Các căn cứ cụ thể để NHNN xác định các NHTM phải hoàn thiện tái cơ cấu gồm:
- Các chỉ tiêu giám sát để đánh giá mức độ lành mạnh: Tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ nguốn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, cơ cấu tài sản, nguồn vốn, nợ xấu, mức độ rủi ro danh mục tín dụng và đầu tư,...
- Kết quả thanh tra toàn diện: Xác định thực trạng tài chính, hoạt động, quản trị, mức độ rủi ro thực tế và việc tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Kết quả kiểm toán độc lập: Xác định thực trạng tài chính và vốn của NHTM.
2.2. Về căn cứ giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 đối với từng TCTD:
Để kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2012 phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện phân nhóm để giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng phù hợp đối với từng TCTD. Việc phân nhóm được thực hiện dựa vào kết quả xếp loại các TCTD trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động, tài chính an toàn, lành mạnh và năng lực của từng TCTD (Riêng đối với nhóm NHTM cổ phần thì dựa trên kết quả xếp loại theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN quy định về xếp hạng các NHTM cổ phần). Theo đó, căn cứ xếp loại và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 đối với từng TCTD dựa trên các yếu tố chủ yếu sau:
- Mức độ an toàn vốn: đánh giá dựa trên tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và tỷ lệ vốn cấp 1/vốn tự có
- Chất lượng tài sản: đánh giá dựa trên các tiêu chí về: Tỷ lệ nợ xấu; tỷ trọng tài sản có sinh lời so tổng tài sản; tỷ lệ bù đắp rủi ro.
- Khả năng thanh khoản: đánh giá dựa trên Hệ số sử dụng vốn (tỷ lệ dư nợ thị trường I/vốn huy động thị trường I); tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn/huy động thị trường I và tỷ lệ vốn khả dụng/huy động không kỳ hạn.
- Kết quả kinh doanh: đánh giá dựa trên chỉ số ROA (tỷ lệ lợi nhuận so tổng tài sản) và ROE (tỷ lệ lợi nhuận so vốn chủ sở hữu).
Ngoài ra, trong một số trường hợp, việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng còn phải tính đến yếu tố đặc thù, chẳng hạn như đối với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn có tính đến việc ưu tiên vốn phục vụ phát triển lĩnh vực này; đối với một số TCTD mới đi vào hoạt động (chủ yếu là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài) do dư nợ tín dụng năm 2011 chưa phát sinh hoặc ở mức rất thấp nên việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được căn cứ vào mức vốn điều lệ (vốn được cấp) của TCTD đó để giao chỉ tiêu.
Như vậy, việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được căn cứ chủ yếu vào các chỉ tiêu đánh giá tình hình an toàn, lành mạnh trong hoạt động, khả năng mở rộng tín dụng, nguồn vốn và năng lực tài chính của từng TCTD và một số yếu tố đặc thù như trên.
3. Về ý kiến: Nhà nước có chủ trương độc quyền vàng miếng nhưng trong thời gian vừa qua Ngân hàng Nhà nước lại cho một công ty kinh doanh vàng thì đây có phải là lợi ích nhóm không?
Theo quy định tại Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, việc sản xuất vàng miếng là do Nhà nước thông qua NHNN độc quyền tổ chức thực hiện, không có tổ chức, cá nhân nào được sản xuất vàng miếng. Nhà nước công nhận quyền nắm giữ, mua, bán tất cả các thương hiệu vàng miếng hợp pháp của người dân, không có sự phân biệt đối xử và không hạn chế lưu thông các thương hiệu vàng miếng. Triển khai chủ trương Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng thương hiệu vàng miếng SJC là thương hiệu vàng của Nhà nước và yêu cầu Công ty SJC gia công vàng miếng cho Ngân hàng Nhà nước xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, phù hợp với thực tế thị trường vàng miếng: Trước khi Nghị định 24 được ban hành, trên thị trường có 8 thương hiệu vàng miếng khác nhau được lưu hành. Trong đó, thương hiệu SJC đã được thị trường lựa chọn là thương hiệu có uy tín. Vàng miếng SJC chiếm trên 90% lượng vàng miếng trong lưu thông.
Thứ hai, tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và xã hội. Việc xây dựng thương hiệu vàng miếng riêng của NHNN trong điều kiện hiện nay là không phù hợp vì: (i) Để có thương hiệu vàng miếng riêng, Nhà nước phải bỏ nhiều vốn đầu tư để xây dựng thương hiệu, tổ chức sản xuất vàng miếng thương hiệu của mình và (ii) Việc NHNN có thương hiệu vàng miếng riêng có thể gây tốn kém lớn (tài chính, thời gian) cho người dân khi chuyển đổi từ các thương hiệu vàng miếng khác sang thương hiệu của NHNN.
Công ty SJC không được sản xuất vàng miếng mà chỉ được gia công vàng miếng SJC 99,99% khi được yêu cầu dưới sự giám sát chặt chẽ của NHNN. Việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng thông qua sử dụng thương hiệu vàng miếng SJC và yêu cầu công ty SJC gia công vàng miếng cho NHNN là phù hợp với mục tiêu của Nhà nước về tổ chức, sắp xếp lại thị trường vàng, đảm bảo lợi ích cho người dân và hoàn toàn không có lợi ích nhóm hay lợi ích cho Công ty SJC.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Phạm Thị Mỹ Ngọc. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.