Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội

Tổng hợp trả lời chất vấn tại hội trường ngày 13/11/2012

18/06/2013 20:40:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

BẢN TỔNG HỢP CHẤT VẤN THỐNG ĐỐC NHNN NGÀY 13.11.2012

(Biên tập trên cơ sở bản ghi âm tại Hội trường)

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Chúng ta bắt đầu chương trình chất vấn đối với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, tập trung vào 3 vấn đề lớn Quốc hội và đồng bào cử tri cử cả nước quan tâm:

Một là, vừa đảm bảo cho sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo kiềm chế lạm phát. Sự khéo léo của Thống đốc ngân hàng Nhà nước trong điều hành và ý kiến của Quốc hội đặt ra như thế nào.

Thứ hai, giải quyết thanh khoản, giải quyết nợ xấu, nợ đọng lớn cho từng loại nợ khác nhau như thế nào để khơi thông và tạo ra dòng chảy cho nền kinh tế vào đúng chỗ.

Thứ ba, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng để đảm bảo tính an toàn của hệ thống, không gây ra đột biến về tiền tệ, tạo tâm lý cho thị trường yên tâm hơn và bảo đảm tiền gửi của người dân an toàn hơn. Từ đấy vừa tăng cường thu hút được tiền gửi, vừa tăng cường được giải ngân vào nền kinh tế một cách có hiệu quả. Vấn đề lãi suất có thể hỗ trợ cho sản xuất trong lúc này, sự kết hợp giữa ngân hàng với nhà sản xuất. Nhà sản xuất ở đây được hiểu là sản xuất công nghiệp, sản xuất bất động sản, sản xuất nông nghiệp và các ngành dịch vụ tiêu dùng khác.

Thị trường thứ hai là thị trường vàng, quản lý thị trường vàng theo cơ chế thị trường có quản lý nhà nước để đảm bảo nền kinh tế không bị vàng hóa, tức là vàng dùng vào đúng mục đích, không thông qua vàng để đầu cơ, đầu tư không đem lại hiệu quả. Tính độc quyền của nhà nước, ở đây chúng ta không độc quyền về kinh doanh, nhưng độc quyền về nhà nước, quản lý thị trường vàng thế nào, đảm bảo lợi ích của người có vàng, mục đích của người dùng vàng được tôn trọng, lợi ích của người có vàng được bảo đảm, mục đích sử dụng vàng ví dụ để làm đồ nữ trang, để cất trữ được đảm bảo. Đồng thời, giải quyết, ngăn chặn những tiêu cực trong kinh doanh của thị trường tiền tệ, thị trường vàng gây ra bức xúc trong xã hội. Những tiêu cực, lãng phí này tạo ra bất an trong xã hội. Đó là những vấn đề trọng tâm mà Thống đốc ngân hàng Nhà nước sẽ trả lời các chất vấn của các Đại biểu Quốc hội.

Thống đốc ngân hàng Nhà nước đã trả lời trước Quốc hội trong phiên họp trước, đã trả lời chất vấn trước Thường vụ Quốc hội, đã trả lời trong Báo cáo giải trình của ủy ban và cũng phát biểu giải trình thêm nhiều lần tại hội trường nhưng Quốc hội vẫn thấy cần phải đặt ra và giải quyết những vấn đề này. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã trình Quốc hội lựa chọn chất vấn Thống đốc với ý nghĩa như vậy. Tôi hy vọng những vấn đề rất nóng này được chúng ta giải quyết một cách rất bình tĩnh, tốt đẹp.

Xin mời các đại biểu bắt đầu đặt câu hỏi, Thống đốc sẽ trực tiếp trả lời.

Dương Hoàng Hương - Phú Thọ

Kính thưa Quốc hội,

Kính thưa Thống đốc, là người đầu tiên được đặt câu hỏi chất vấn với Thống đốc, tôi xin có một số câu hỏi như sau.

Câu hỏi thứ nhất, trong thời gian vừa qua có sự chênh lệch lớn kéo dài giữa giá vàng trong nước và quốc tế, với trách nhiệm của mình đề nghị Thống đốc cho biết biện pháp để xử lý tình trạng này. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế còn một lượng vàng nhàn rỗi rất lớn trong dân cư, có nghĩa là có một lượng vốn lớn của xã hội đang tồn tại dưới dạng vàng mới chỉ ở trạng thái cất trữ trong khi nền kinh tế đang khát vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển. Đề nghị Thống đốc cho biết đã và sẽ có những giải pháp gì để huy động được nguồn lực lớn này cho đầu tư phát triển đất nước trên cơ sở đảm bảo lợi ích chính đáng của người dân và tránh được vàng hóa nền kinh tế.

Câu hỏi thứ hai, nợ xấu và giải quyết nợ xấu đang là vấn đề lớn thu hút sự quan tâm chung của cả xã hội, được nhiều cử tri bày tỏ lo lắng, quan ngại. Nếu không làm rõ những băn khoăn, lo lắng này thì sẽ gây ra hiệu ứng tâm lý không tốt, cộng hưởng với tác hại thực của nợ xấu sẽ gây ra hệ lụy to lớn cho nền kinh tế, cho xã hội. Đề nghị Thống đốc cho biết thực trạng của nợ xấu hiện nay, các giải pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng để người dân yên tâm.

Bên cạnh đó, do nợ xấu phát sinh từ nhiều nguyên nhân liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mà cả ngày hôm qua và buổi sáng sớm ngày hôm nay hai Bộ trưởng trả lời chất vấn cũng đã xác nhận một số trong các nguyên nhân này. Có đại biểu cũng đã đề xuất giải pháp 3 + 1 để nói rằng nhất thiết phải có một hệ thống giải pháp đồng bộ trên nhiều lĩnh vực và có sự phối hợp chặt chẽ mới giải quyết triệt để hàng tồn kho, bất động sản cũng như là nợ xấu. Đề nghị Thống đốc cho biết một cách tổng thể trách nhiệm và sự cần thiết vào cuộc, phối hợp của các ngành chức năng, các cấp, các lĩnh vực liên quan nhằm giải quyết đến tận gốc nguyên nhân của nợ xấu.

Câu hỏi thứ ba, mặc dù thời gian qua ngành Ngân hàng đã có một số giải pháp đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về vốn, nhưng theo phản ánh của một số doanh nghiệp thì việc tiếp cận vốn vẫn gặp khó khăn, vướng mắc, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ. Đề nghị Thống đốc cho biết những giải pháp tiếp tục của ngành Ngân hàng để thực sự tháo gỡ khó khăn, cải thiện mạnh hơn khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và hỗ trợ thị trường trong thời gian tới. Xin cảm ơn Quốc hội, cảm ơn Thống đốc.

Nguyễn Văn Tuyết - Bà Rịa - Vũng Tàu

Kính thưa Quốc hội.

Kính thưa Thống đốc.

Tôi có hai câu hỏi gửi đến Thống đốc.

Câu thứ nhất, vì sao cơ chế quản lý thị trường vàng, kinh doanh vàng miếng chưa đem lại hiệu quả và chưa đạt được mục tiêu là đưa giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới. Thưa Thống đốc, tại sao Ngân hàng Nhà nước không tập trung vào quản lý chất lượng vàng mà lại quản lý thương hiệu để tạo ra sự độc quyền; có biểu hiện lợi ích nhóm trong vấn đề này hay không? Trách nhiệm và giải pháp của Thống đốc thế nào?

Câu hỏi thứ hai, trong Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 2 và Kỳ họp thứ 3 có nêu: tiến độ xử lý nợ xấu còn chậm, kết quả hạn chế và đây là những vấn đề bức xúc". Đề nghị Thống đốc cho biết tỷ lệ nợ xấu trong các lĩnh vực thế nào? Nguyên nhân nào là nguyên nhân chính và những giải pháp khắc phục; vấn đề nợ xấu khi nào sẽ giải quyết xong. Xin trân trọng cám ơn Thống đốc. Xin cám ơn Quốc hội.

Đàng Thị Mỹ Hương - Ninh Thuận

Kính thưa Chủ tịch Quốc hội.

Kính thưa Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Xin được phép hỏi Thống đốc các nội dung như sau:

Xin Thống đốc cho biết nguyên nhân dẫn đến nợ xấu quá lớn của các ngân hàng, những ngân hàng có tỷ lệ vốn Nhà nước chiếm đa số là gì? Lỗi nợ xấu ngân hàng là tại ai? Tại người cho vay hay là người vay? Theo Thống đốc, việc ngân hàng có nợ xấu quá lớn như vậy thì có lỗi hay không và nếu có lỗi thì phải chịu trách nhiệm xử lý như thế nào? Với tư cách là người đứng đầu, xin Thống đốc cho biết biện pháp xử lý trách nhiệm đối với các ngân hàng có nợ xấu lớn đó là gì? Vấn đề nợ xấu không lẽ ngân hàng vô can. Nếu xác nhận có liên quan thì phải chỉ ra mức độ liên can đó là gì, hướng xử lý như thế nào để thời gian tới không còn tình trạng cho vay không được kiểm soát chặt chẽ và không đúng đối tượng, dẫn đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.

Nội dung thứ hai. Việc tổ chức tín dụng đã sử dụng nguồn dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu được tổ chức thực hiện như thế nào? Yêu cầu Thống đốc công khai hình thức tổ chức thực hiện và đề nghị Thống đốc cho biết việc sử dụng nguồn dự phòng để xử lý nợ xấu như vậy có công bằng trong các đối tượng có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng hay không và mang lại hiệu quả như thế nào? Xin hỏi có hay không yếu tố lợi ích nhóm trong các tổ chức tín dụng, trong việc chọn các đối tượng nợ xấu để lấy nguồn dự phòng xử lý.

Nội dung cuối cùng. Thực trạng hiện nay các doanh nghiệp đang trong tình trạng rất khó khăn. Hàng hóa, sản phẩm làm ra thì chậm, thậm chí không được tiêu thụ. Doanh nghiệp hàng ngày phải đối đầu với nợ, lãi suất ngân hàng, phải tự thân gồng gánh, cưu mang số lượng người lao động mà chưa thấy nhà nước quan tâm tiếp sức giúp họ vượt qua khó khăn để tồn tại và đứng vững. Tôi thiết nghĩ lúc họ làm ăn tốt thì họ đã đóng góp vào ngân sách nhà nước không nhỏ, lúc họ gặp khó khăn thì nhất thiết nhà nước cũng phải ứng xử cho phù hợp, tạo động lực thúc đẩy họ tiếp tục hoạt động với sự phấn khởi và đầy niềm tin. Với ý nghĩ đó, xin hỏi Thống đốc có chia sẻ gì hay không; đề nghị Thống đốc cho biết giải pháp cụ thể để tăng trưởng tín dụng, biện pháp chủ yếu giúp các doanh nghiệp được hấp thụ, tiếp cận vốn vay trong thời gian tới như thế nào. Xin cảm ơn Thống đốc, xin cảm ơn Quốc hội.

Trần Ngọc Vinh - TP Hải Phòng

Kính thưa Quốc hội,

Thưa Thống đốc,

Đề nghị Thống đốc làm rõ cho một số vấn đề như sau:

Vấn đề thứ nhất, Luật tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01.01.2011, tuy nhiên đến ngày 08.03 năm 2012, nghĩa là sau 1 năm hai tháng ngân hàng nhà nước mới ban hành Thông tư 04 hướng dẫn về vấn đề nhận ủy thác của tổ chức tín dụng theo ủy quyền tại Điều 106 của luật. Điều này đã làm ảnh hưởng đến một số quyền lợi của tổ chức tín dụng thực hiện ủy quyền và ủy thác trong thời gian chưa có thông tư. Đề nghị Thống đốc giải thích về sự chậm trễ ban hành văn bản, nếu sự chậm trễ này gây thiệt hại cho các tổ chức và cá nhân thì trách nhiệm của ngân hàng nhà nước đến đâu.

Vấn đề thứ hai, nếu như trước đây chi phí để đóng và dập thương hiệu vàng SJC từ vàng miếng nhập khẩu chỉ khoảng 7 - 8 nghìn đồng/lượng thì nay chi phí thương hiệu khác sang vàng SJC lên tới 50 nghìn đồng/lượng, với số vàng cần dập khoảng 5000 lượng mỗi ngày thì số tiền chi phí cho việc dập thương hiệu ước tính hàng tỷ đồng mỗi ngày. Xin Thống đốc cho biết tại sao có sự chênh lệnh lớn như vậy, mức chi phí này do ai đặt ra và dựa trên cơ sở nào, số tiền lớn thu được này sẽ được sử dụng ra sao.

Vấn đề thứ ba, hoạt động mua, bán vàng miếng ở nước ta là tập quán có tính lịch sử văn hóa lâu đời, đề nghị Thống đốc cho biết Ngân hàng Nhà nước trong thời gian tới có những giải pháp nào để phát triển lành mạnh thị trường vàng, đảm bảo sự thông suốt trong phạm vi nền kinh tế và liên thông với thị trường quốc tế. Hạn chế tác động tiêu cực để tăng cường đóng góp của thị trường vàng vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Xin cảm ơn Quốc hội. Cảm ơn Thống đốc.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Xin cảm ơn đại biểu. Như vậy 4 đại biểu đã đặt ra các câu hỏi rất trọng tâm và cũng rất sát với những nội dung chúng ta đang bàn. Xin kính mời đồng chí Thống đốc lần lượt trả lời.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa Đoàn Chủ tịch,

Kính thưa các vị khách quý,

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội và cử tri của cả nước,

Tôi xin phép được trình bày lần lượt các ý kiến chất vấn của các đại biểu Quốc hội:

Thứ nhất là ý kiến chất vấn của Đại biểu Dương Hoàng Hương. Đại biểu chất vấn 3 câu hỏi nhưng bao gồm 4 ý, Tôi xin lần lượt trình bày các ý.

Thứ nhất về chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới thời gian qua và biện pháp xử lý? Tôi xin báo cáo như sau: Trước đây, mỗi khi giá vàng trong nước biến động, tạo ra sự chênh lệch lên hoặc xuống so với giá vàng thế giới thì sẽ gây ra rất nhiều biến động về kinh tế vĩ mô thông qua tác động của tỷ giá. Nếu giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, như có lần Tôi đã báo cáo trước Quốc hội, chỉ cần ở mức khoảng 400.000 là đã có hiện tượng đầu cơ và buôn lậu vàng qua biên giới với quy mô rất lớn. Theo thống kê của chúng tôi, trong nhiều năm trước khi Nghị định 24 có hiệu lực, thì 1 năm lượng vàng buôn lậu qua biên giới khoảng 10 - 30 tấn vàng/năm. Khi đó, mỗi lần có chênh lệch giá vàng, các đối tượng buôn lậu vàng thực hiện gom ngoại tệ trên thị trường chợ đen để nhập lậu vàng qua biên giới làm cho thị trường ngoại tệ chợ đen biến động mạnh, tỷ giá tăng cao, từ đó kéo theo tỷ giá trên thị trường chính thức cũng tăng theo, gây ảnh hưởng không thuận lợi đến hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta đang có độ mở ngày càng lớn. Tỷ giá tăng làm cho mặt bằng giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng, đặc biệt là các mặt hàng nguyên liệu, làm cho giá thành sản xuất trong nước tăng theo, từ đó tác động làm tăng chỉ số giá tiêu dùng.

Như vậy, chênh lệch giá vàng ảnh hưởng rất lớn đến ổn định kinh tế vĩ mô, làm chảy máu ngoại tệ của đất nước, trong khi nước ta phải đổ nhiều mồ hôi mới có được một đồng ngoại tệ. Do mức độ ảnh hưởng của giá vàng đến kinh tế vĩ mô và đời sống kinh tế - xã hội là rất lớn nên trong thời kỳ trước đây nên mặc dù pháp luật đã có qui định vàng miếng không phải là mặt hàng thiết yếu, nhưng buộc Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải cho phép nhập khẩu vàng qua con đường chính thức để bình ổn giá vàng trong nước sát với giá vàng quốc tế. Đây là khiếm khuyết trong quản lý thị trường vàng. Có thể nói thẳng thắn thấy răng: trước khi Nghị định 24 được ban hành, thị trường vàng miếng không được quản lý tập trung vào một đầu mối mà được phân khúc ra rất nhiều đoạn, mỗi bộ, mỗi ngành, mỗi cơ quan chỉ quản lý một khúc của thị trường này.

Theo quy định của Nghị định 174, NHNN chỉ có trách nhiệm quản lý xuất, nhập khẩu vàng, nguyên liệu và cho phép dập vàng miếng. Khi vàng nguyên liệu đã được dập ra thành vàng miếng thì nó được coi là hàng hóa bình thường và khi đó nó chịu trách nhiệm quản lý của cơ quan khác. Khi đó, chỉ cần có nội dụng được phép kinh doanh vàng trong giấy phép đầu tư do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh, thành phố cấp là doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh có thể buôn bán vàng miếng. Thực tế, vàng miếng đã được lưu hành rất tự do và có khoảng trên 12.000 cửa hàng kinh doanh vàng miếng tại nước ta trong thời gian qua.

Để khắc phục những khiếm khuyết trong quản lý thị trường vàng nói chung và vàng miếng nói riêng, NHNN đã trình Chính phủ cho phép xây dựng Nghị định mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng từ năm 2009. Vì nghị định này tác động đến nhiều lĩnh vực kinh doanh trên thị trường, đặc biệt là kinh doanh vàng nên trải qua rất nhiều thời gian nghiên cứu, thảo luận, trao đổi, xin ý kiến, đến năm 2011, Nghị định mới được ban hành (Nghị định 24) và có hiệu lực kể từ ngày 25.05.2012.

Với quy định Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng tại Nghị định 24, kể từ ngày 25.05.2012, tất cả các đơn vị được cấp phép sản xuất vàng miếng trước đây phải chấm dứt hoạt động sản xuất vàng miếng... Cùng với qui định tại Nghị định 95 cho phép các cơ quan chức năng ngoài xử phạt hành chính ở mức độ cao, còn được áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu sung công quỹ toàn bộ tang vật thu được đối với các vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng đã giúp chúng ta bước đầu đạt được mục tiêu không còn hiện tượng nhập lậu vàng qua biên giới như trước đây. Thực tế từ tháng 4 trở lại đây, mặc dù có sự chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và quốc tế, nhưng thị trường ngoại tệ, tỷ giá hết sức ổn định, không ảnh hưởng đến chỉ số giá cả, lạm phát và tình hình kinh tế vĩ mô.

Do trong rổ hàng hóa để tính CPI không có vàng nên giá vàng không ảnh hưởng đến chỉ số giá cả, nhưng chênh lệch cao giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới không còn gây ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô.

Từ những kết quả đạt được nêu trên và quy định của pháp luật hiện hành đã qui định rõ vàng miếng là mặt hàng nhà nước không cấm kinh doanh nhưng là mặt hàng kinh doanh có điều kiện và nhà nước không khuyến khích kinh doanh, đồng thời, vàng miếng cũng không phải là mặt hàng thiết yếu và không thuộc đối tượng phải bình ổn giá nên không cần thiết phải bình ổn giá vàng miếng trong điều kiện hiện nay.

Thứ hai về giải pháp huy động vàng đang có trong nền kinh tế để phục vụ cho phát triển quốc kế dân sinh. Tôi đã có dịp báo cáo với Quốc hội trong phiên thảo luận về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KTXH năm 2012 và kế hoạch phát triển KTXH năm 2013. Nay, Tôi xin báo cáo với Quốc hội một lần nữa như sau:

Đến nay, chưa có một cơ quan nào khảo sát để đánh giá có bao nhiêu vàng trong nền kinh tế. Có rất nhiều thông tin khác nhau về lĩnh vực này. Nhưng từ thực tiễn hoạt động quản lý trong thời gian vừa qua, chúng tôi có thể ước được lượng vàng này dao động trong khoảng 250-400 tấn vàng tùy từng thời kỳ. Con số này biến động mạnh trong những năm trước đây do hoạt động xuất, nhập lậu vàng qua biên giới. Trong thời gian hiện nay, con số này ở mức khoảng 250-300 tấn. 1 tấn vàng có giá trị khoảng 50 triệu đôla Mỹ nên 300 tấn vàng có giá trị khoảng 15 tỷ đôla Mỹ. Đây là một lượng tiền rất lớn nằm bất động ở vàng. Việt Nam không phải là nước sản xuất vàng mà là nước nhập khẩu vàng, do vậy, đây là một nguồn lực rất lớn đã bị lãng phí . Vì vậy, mục tiêu đặt ra là làm sao huy động được, khơi thông được nguồn vốn này để phục vụ cho quốc kế dân sinh. Để đạt được mục tiêu này cần phải hoàn thiện môi trường pháp lý để ngăn chặn sự gia tăng và làm giảm hiện tượng vàng hóa trong nền kinh tế.

Môi trường pháp lý đầu tiên được hoàn thiện là Nghị định 24. Sau 5 tháng Nghị định 24 có hiệu lực, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đã mua lại hơn 60 tấn vàng của người dân, tương đương khoảng 3 tỷ đô la Mỹ đã được chuyển hóa thành tiền Việt Nam để phục vụ cho nền kinh tế. Tôi cũng xin báo cáo với đại biểu Quốc hội, nếu như không phải đảm bảo thanh khoản của nền kinh tế thường tăng cao trong quý IV thì các TCTD không phải chỉ mua 60 tấn mà có thể phải mua trên 80 tấn vàng trong năm nay để trả nợ cho người dân gửi vàng trước ngày 25/11/2012. Điều đó có nghĩa, chúng ta đã bước đầu huy động ngược trở lại lượng vàng đã có trong dân để phục vụ cho quốc kế dân sinh, đấy cũng là cứu cánh cho nền kinh tế của nước ta trong năm 2012.

Như đại biểu Quốc hội cũng thấy, chúng tôi nhận nhiệm vụ trong bối cảnh đất nước vô cùng khó khăn. Giờ này năm ngoái, thanh khoản của hệ thống ngân hàng vô cùng khó khăn, các ngân hàng thương mại phải vay nhau với lãi suất 25 - 30%, nguy cơ các ngân hàng mất thanh khoản lan rộng trên toàn hệ thống, các doanh nghiệp vay trên 20 - 25%, lúc đó chúng ta đặt mục tiêu là cố gắng làm sao đưa lãi suất cho vay về mức 17 – 19%. Là những người điều hành trực tiếp, chúng tôi hết sức lo lắng về việc làm thế nào để có đủ tiền thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của năm 2012 vì chúng ta không còn dựa được vào các dòng vốn này, dòng vốn khác ở nước ngoài đổ vào như trước đây do kinh tế thế giới cũng đang hết sức khó khăn. Nếu chúng ta lại bơm tiền ra để đảm bảo thanh khoản thì không có cách gì chúng ta thực hiện được mục tiêu đặt ra là lạm phát phải dưới 10%. Trong bối cảnh đó, chúng tôi đã trình Chính phủ và hết sức quyết liệt thực hiện tốt 3 chương trình trong một thời gian rất ngắn để nhanh chóng ổn định giá trị đồng Việt Nam và lấy đó làm nền tảng. Đến nay, việc chống được vàng hóa bước đầu đã tạo ra nguồn tiền phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước của năm 2012.

Ý thứ ba, Đại biểu hỏi về nợ xấu, thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu, công tác phối hợp giữa các cơ quan, bộ, ban, ngành để giải quyết nợ xấu, như hàng tồn kho, thị trường bất động sản... Nội dung này Tôi đã trình bày rất chi tiết tại phiên chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 8, tuy nhiên hôm nay, Tôi xin trình bày bổ sung thêm.

Về thực trạng nợ xấu: từ tháng 8 năm 2011, chúng tôi đã nhìn thấy thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng và nguy cơ gia tăng nợ xấu. Chính vì vậy, chúng tôi đã nhanh chóng xây dựng Đề án tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng và đã được Bộ Chính trị thông qua và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó có một nội dung quan trọng là xử lý nợ xấu trong ngành Ngân hàng. NHNN đã nhận định nợ xấu sẽ gia tăng nhanh trong thời gian tới do diễn biến bất lợi của kinh tế vĩ mô cộng với những tồn tại được tích lũy qua nhiều năm khi chúng ta áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng. Vì vậy, cần có các giải pháp tổng thể, căn cơ để giải quyết nợ xấu vì nếu không được giải quyết kịp thời, nợ xấu sẽ gây hệ lụy cho nền kinh tế của nước ta không phải là một năm, hai năm mà có thể là năm năm, mười năm hoặc thậm chí là mười lăm năm như Nhật Bản. Năm 2008, khi thị trường bất động sản đổ vỡ, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng lớn, Mỹ cũng đang phải chi rất nhiều tiền đề xử lý, nhưng đến nay cũng chưa khắc phục được.

Về thực trạng nợ xấu, hiện nay, có 3 loại số liệu về nợ xấu. Chúng tôi đã báo cáo Quốc hội vì sao có 3 loại số liệu và số liệu nào đáng tin cậy nhất tại phiên chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tôi đã trình bày và theo đúng thông lệ quốc tế thì số liệu đánh giá của cơ quan quản lý Nhà nước bao giờ cũng được coi là số liệu có ý nghĩa thực tiễn và chính xác nhất.

Hiện nay, theo số liệu báo cáo của các TCTD, đến ngày 30-9, nợ xấu là 4,93%. Theo đánh giá của NHNN, số này khoảng 8,82%. Thực tế, tốc độ tăng trưởng nợ xấu đã bắt đầu gia tăng nhanh chóng từ năm 2008: năm 2008 nợ xấu tăng 74%, năm 2009 tăng khoảng 27%, năm 2010 tăng khoảng 41%, năm 2011 tăng 64%, thì đầu năm đến nay, nợ xấu của chúng ta tăng khoảng 66%. Điều này là do hệ quả của những hệ quả từ trước đến nay dồn lại, điều này khẳng định nợ xấu không phải là tăng trong giai đoạn ngắn hiện nay mà tăng trong cả thời kỳ khi nền kinh tế của chúng ta gặp khó khăn do ảnh hưởng suy thoái của nền kinh tế toàn cầu.

Về giải pháp xử lý nợ xấu, trước đó, các Đại biểu đã nghe trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ công thương và Bộ trưởng Bộ xây dựng, từ đó, chúng ta thấy được một bức tranh toàn thể hơn trong vấn đề xử lý nợ xấu và cũng là chia sẻ chung cho hệ thống ngân hàng. Có 5 nhóm nguyên nhân dẫn đến nợ xấu: Thứ nhất, từ các tổ chức tín dụng cho vay vốn; Thứ hai từ các doanh nghiệp đi vay vốn; Thứ ba từ cơ chế chính sách, trong đó có cả cơ chế chính sách vĩ mô lẫn cơ chế chính sách phát triển ngành; Thứ tư do môi trường điều kiện trong và ngoài nước trong từng thời kỳ; Cuối cùng do công tác thanh tra giám sát, mà thanh tra giám sát ở đây không phải chỉ riêng của ngành ngân hàng mà thanh tra giám sát trong các lĩnh vực khác.

Thấy được rõ các nhóm nguyên nhân như vậy thì chúng ta sẽ có được các nhóm giải pháp cho phù hợp. Ở đây, Tôi xin trình bày sâu hơn về nhóm giải pháp của hệ thống ngân hàng.

Đối với NHNN, có hai trách nhiệm: Một là cơ chế chính sách; Hai là hoạt động thanh tra, giám sát.

Do tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại trước đây quá nóng dẫn đến chất lượng tín dụng không tốt, khi môi trường kinh doanh trở nên xấu đi thì những món nợ này trở thành nợ xấu. Để xử lý nợ xấu, thời gian vừa qua, hệ thống ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp rất quyết liệt, như: NHNN đã ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012; chỉ đạo các TCTD tiến hành đánh giá lại thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp để cơ cấu lại nợ với thời hạn, lãi suất phù hợp hơn với năng lực của doanh nghiệp. Sau 6 tháng thực hiện, xử lý nợ xấu đã đạt được kết quả rất ấn tượng. Đến 30/6, tổng số nợ được cơ cấu lại dưới mọi hình thức mới chỉ đạt hơn 36.000 tỷ, nhưng đến 30/9 tổng số nợ được cơ cấu lại đã đạt khoảng 252 ngàn tỷ, xấp xỉ 8% tổng dư nợ của toàn hệ thống ngân hàng. Nếu không có các giải pháp xử lý quyết liệt như vậy thì nợ xấu tính riêng theo báo cáo của các tổ chức tính dụng sẽ không chỉ là 4,93% mà là con số lớn hơn rất nhiều. Chúng tôi xin báo cáo để doanh nghiệp và cử tri trong cả nước thấy sự quyết liệt và thông cảm, chia sẻ với hệ thống ngân hàng thương mại.

Dưới sự chỉ đạo và giám sát chặt chẽ của NHNN, việc trích lập dự phòng rủi ro của các TCTD được kiểm soát rất tốt. Từ đầu năm đến nay, riêng trích lập dự phòng rủi ro mới của các TCTD đã tăng lên khoảng 14.000 tỷ đổng, đưa tổng số dư trích lập dự phòng rủi ro còn đến thời điểm hiện nay xấp xỉ 75.000 tỷ đồng. Các tổ chức tín dụng đã xử lý gần 12.000 tỷ đồng từ nguồn trích lập dự phòng rủi ro của chính bản thân các TCTD để xử lý nợ xấu.

Sắp kết thúc năm tài chính là thời điểm để các TCTD rà soát lại tất cả các khoản vay và quyết định việc sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu. Để xử lý quyết liệt vấn đề này, ngày 9/11 vừa qua, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 06 chỉ đạo tất cả các TCTD nếu chưa trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro thì chưa được chia cổ tức, lợi nhuận trong năm 2012 và giao NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố giám sát, phê duyệt kế hoạch phân chia cổ tức, kế hoạch tiền lương của các TCTD để đảm bảo có nguồn vốn xử lý nợ xấu. Vì vậy, có thể thấy chúng ta có cơ sở để kiểm soát nợ xấu.

Như tôi cũng có dịp trình bày với Quốc hội, nợ xấu theo báo cáo của TCTD khoảng 4,93% tổng dư nợ, trong đó có khoảng hơn 80% có tài sản đảm bảo và trong số tài sản đảm bảo này có tới 57% được đảm bảo bằng bất động sản. Các TCTD đã trích lập dự phòng rủi ro 75.000 tỷ đồng, tương ứng khoảng 2,5 đến 3% tổng dư nợ. Từ các số liệu này cho thấy, nếu quyết tâm xử lý nợ xấu, thì ít nhất chúng ta cũng có khả năng làm cho nợ xấu không gia tăng và nếu kết hợp với các giải pháp khác của các nhóm nguyên nhân khác thì chúng tôi cho rằng vấn đề nợ xấu cũng có thể giải quyết được mặc dù không phải là đơn giản. Mặc dù chúng tôi luôn luôn xác định hệ thống ngân hàng phải là đội quân đi tiên phong, nhưng để xử lý nợ xấu có hiệu quả cần phải có sự phối hợp rất đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành của Chính phủ và chính quyền địa phương.

Tôi đã báo cáo về quy mô tài sản bảo đảm bằng bất động sản đối với các khoản nợ xấu. Tôi xin báo cáo thêm về quy mô tài sản bảo đảm bằng bất động sản đối với tổng dư nợ của toàn hệ thống ngân hàng. Hiện nay, tổng dư nợ đối với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng khoảng 2.700.000 tỷ đồng, trong đó có khoảng 73% dư nợ có tài sản đảm bảo và 27% không có tài sản đảm bảo. Trong số 73% dư nợ có tài sản đảm bảo thì có tới khoảng 66% tài sản đảm bảo bằng bất động sản. Tính tổng thể các khoản nợ có tài sản đảm bảo bằng bất động sản chiếm tới 46% tổng dư nợ. Từ đó thấy rằng, nếu khai thông được thị trường bất động sản, thì có thể giải quyết được một lượng nợ xấu rất lớn. Mà muốn khai thông được thị trường bất động sản thì cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành. Về phía ngành Ngân hàng, chúng tôi khẳng định có đủ nguồn vốn để hỗ trợ thị trường bất động sản khơi thông, nhưng vấn đề cơ bản hiện nay đối với thị trường bất động sản là phải giải quyết được khâu tiêu thụ sản phẩm.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Xin lỗi đồng chí Bình, bằng cách trả lời này thì dài quá. Đồng chí đang nói nợ xấu bảo đảm bằng bất động sản là 50-60%, bây giờ đồng chí với đồng chí Trịnh Đình Dũng và các chủ tịch địa phương phối hợp như thế nào để giải quyết nợ xấu về bất động sản, giải quyết nợ xấu vào từng loại nợ.

Anh Dũng có nói chuyện nợ xấu của các công ty xây dựng, trong các công ty xây dựng có câu chuyện nhà nước đầu tư nhưng lại đầu tư trong thanh toán, vậy bây giờ đồng chí với đồng chí Dũng giải quyết nợ của các công ty xây dựng đối với loại này như thế nào. Hay là nhà máy xi măng thì có một số dở dang, bây giờ thị trường tiêu thụ lại khó, sản phẩm làm đường thì không kịp, vậy giải quyết nợ xấu của các nhà máy xi măng, các công trình đầu tư xi măng thế nào? Nếu đồng chí trả lời được từng việc như thế thì mọi việc sẽ minh bạch.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Xin báo cáo Quốc hội.

Chúng tôi đang phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng, Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chính quyền các địa phương để giải quyết nhu cầu mua nhà ở, giải quyết tồn đọng xây dựng cơ bản... Hiện nay, tồn đọng xây dựng cơ bản khoảng 93.000 tỷ, nếu tháo gỡ được nút này, thì đã giải quyết xấp xỉ 3% nợ xấu rồi. Đối với lĩnh vực hàng tồn kho khác, chúng tôi sẽ phối hợp với các bộ, ban, ngành, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công thương rà soát hàng tồn kho trong từng lĩnh vực và xem xét vấn đề gì hệ thống ngân hàng có thể tháo gỡ. Thời gian vừa qua, chúng tôi đã phối hợp rất tốt với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong vấn đề thu mua thóc, gạo, lương thực, thủy sản xuất khẩu để giải quyết ứ đọng hàng hóa.

Nói một cách tổng thể là ngoài sự quyết tâm, các giải pháp quyết liệt của bản thân hệ thống ngân hàng, thì hệ thống ngân hàng sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành để xử lý vấn đề nợ xấu. Tôi tin rằng, dưới sự chỉ đạo nhất quán, quyết liệt của Chính phủ, chúng ta sẽ có khả năng giải quyết một phần nợ xấu để góp phần khơi thông nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế đất nước trong năm 2012.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Bây giờ đã ngồi lại với nhau chưa.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Báo cáo Chủ tịch Quốc hội, chúng tôi đã làm việc với Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn từ tháng 4 trở lại đây để triển khai các chương trình như chúng ta đã thấy, như: chương trình cho vay và giãn nợ đối với cá tra, cá basa; chương trình cho vay để hỗ trợ sản xuất thực phẩm trong dịp giáp tết này... Chúng tôi cũng phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát tồn đọng trong đầu tư xây dựng cơ bản. Có thể thấy, chúng tôi đang triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu rất quyết liệt và mong Chính phủ cũng sẽ quan tâm đến vấn đề này hơn nữa trong thời gian tới.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Như thế là câu trả lời nợ xấu khá rõ rồi, Đồng chí có thể chuyển câu khác. Bây giờ là 3 cộng 1, Ngân hàng ngồi với các bộ liên quan, nợ ở địa phương nào nhiều thì ngồi với ông chủ tịch ở đó nữa. Chúng ta lần lượt giải quyết từng vùng một, từng ngành một, như vậy nợ xấu sẽ giảm. Cách trả lời như thế tôi thấy là rõ và làm được như thế thì chắc chắn sẽ có kết quả.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Ý cuối cùng của Đại biểu về các giải pháp để có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn. Giải pháp quan trọng thứ nhất là giải quyết nợ xấu, tôi đã trình bày ở trên.

Giải pháp thứ hai là lãi suất. Đúng là đầu năm lãi suất còn cao và chỉ bắt đầu giảm từ tháng 3/2012, nhưng tốc độ giảm rất nhanh. Trong đó, lãi suất huy động từ 15% đã giảm xuống còn 9% trong vòng có 3 tháng. Đồng thời, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay và chủ động rà soát, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng với lãi suất hợp lý Điều chỉnh giảm lãi suất đối với các khoản vay cũ xuống mức tối đa 15%/năm kể từ 15/7/2012; tổ chức rất nhiều cuộc đối thoại với doanh nghiệp tại các địa phương về vấn đề giảm lãi suất và tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng. Có thể thấy, NHNN đã tổ chức chỉ đạo, triển khai rất quyết liệt và đã đạt được kết quả ban đầu hết sức ấn tượng. Trước ngày 15/7, dư nợ có lãi suất trên 15% dao động khoảng từ 65 đến 70%, nhưng đến đầu tháng 10, tỷ lệ này chỉ còn lại chưa đến 20%, có nghĩa là khoảng gần 80% số nợ có lãi suất trên 15% đã được đưa xuống dưới mức 15%. Đây là cố gắng lớn của hệ thống ngân hàng, tuy nhiên cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp.

Đây là nội dung được nhiều Đại biểu quan tâm chất vấn nên tôi xin giải trình cụ thể như sau:

Tuy thanh khoản của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng đã được cải thiện, nhưng chưa ổn định, chưa vững chắc. Trước đây, tỉ lệ sử dụng vốn trong hệ thống ngân hàng cao, thậm chí cao hơn 100%, nghĩa là nguồn vốn có 100 đồng nhưng được sử dụng hơn 100 đồng, nên thanh khoản mất an toàn và tiềm ẩn nguy cơ gây đổ vỡ hệ thống. Đến nay, tình hình thanh khoản đã được cải thiện, nhưng chưa chắc. Tỷ lệ sử dụng vốn đã giảm xuống mức 93-96%, nhưng còn cao hơn nhiều so với mới 60-70% của thông lê quốc tế. Vì vậy, áp lực thanh khoản đối với TCTD vẫn rất lớn. Trong số hơn 100 TCTD Việt Nam thì có khoảng 50 tổ chức có tỷ lệ sử dụng vốn cao hơn huy động vốn, từ đó tạo áp lực rất lớn đối với lãi suất.

Bên cạnh đó, mặc dù có nhiều cơ sở để khẳng định năm nay lạm phát giữ được ở mức dưới 8%, nhưng khả năng lạm phát tăng cao trở lại cũng không nhỏ. Mặc dù chúng tôi đã triển khai rất quyết liệt các giải pháp từ đầu năm và đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng lãi suất vẫn còn cao so với khả năng hấp thụ và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Hiện nay, chúng tôi vẫn đang tìm mọi biện pháp để có thể tiếp tục hạ được lãi suất trong thời gian tới. Đồng thời, tôi cũng đề nghị toàn hệ thống chúng ta cùng đồng tâm để giữ vững được lạm phát dưới 8% trong năm nay và tiếp tục đưa lạm phát xuống thấp hơn trong năm tới để hệ thống ngân hàng tiếp tục giảm được cả lãi suất huy động và cho vay.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương hỏi là giải pháp gì để tăng trưởng tín dụng. Bây giờ lãi suất giảm rồi, nợ xấu cũng cơ cấu một bước rồi, huy động tăng trên 12%, tín dụng chỉ tăng có 2,5% thôi, có nghĩa là chưa tăng trưởng được tín dụng, người cần vay tiền chưa vay được. Vấn đề các đại biểu đặt ra là nhiều doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn nhưng lại chưa tiếp cận được. Làm sao để vừa tăng trưởng tín dụng hợp lý, vừa hạn chế không làm cho lạm phát tăng thêm. Không chỉ hạ lãi suất mà còn tăng trưởng tín dụng vào đâu nữa. Xin đồng chí trả lời chỗ này cho đúng câu hỏi của đại biểu.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Về tăng trưởng tín dụng tôi xin báo cáo như sau:

Năm 2012, do nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh tế vĩ mô biến động phức tạp, nên tăng trưởng tín dụng hết sức khó khăn. NHNN đã lường trước vấn đề này ngay từ quý I. Chúng ta cũng phải tính từ 2 phía, nếu tăng trưởng tín dụng dễ dãi quá thì nợ xấu sẽ gia tăng, nên các TCTD phải tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn nhằm thu được đồng vốn cho vay. Về phía các doanh nghiệp, cũng đang khó khăn về tài chính, khả năng trả nợ suy giảm.

Đứng dưới góc độ quản lý vĩ mô, chúng ta phải cân đối được cả 2 vấn đề: không được làm cho nợ xấu gia tăng, không được suy giảm chất lượng tín dụng nhưng tín dụng cũng phải tăng được hài hòa. Tôi xin báo cáo Quốc hội, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng không nhất thiết phải tăng trưởng trực tiếp vào các doanh nghiệp. Sau rất nhiều năm không thể phát hành được trái phiếu Chính phủ thì từ tháng 2 năm nay, chúng ta đã phát hành thành công trái phiếu với khối lượng lớn, trong đó, hệ thống ngân hàng đã mua khoảng 183.000 tỷ trái phiếu Chính phủ và các loại trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, tương đương 6 -7% tăng trưởng tín dụng. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng đến 30/10 đã đạt khoảng 3,36% và ước tính đến cuối năm, tăng trưởng tín dụng sẽ đạt khoảng 5%. Như vậy, tính chung cả tăng trưởng tín dụng và mua trái phiếu thì năm nay, hệ thống ngân hàng đầu tư cho nền kinh tế xấp xỉ 10%.

Về giải pháp tăng trưởng tín dụng thì giải pháp về lãi suất là giải pháp quan trọng thứ nhất. Giải pháp thứ hai là tháo gỡ nợ xấu của các doanh nghiệp để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng. Đó là những giải pháp căn cơ giúp các doanh nghiệp khôi phục được tình hình tài chính và tiếp tục hoạt động sản xuất nhưng phải là sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

Đại biểu Nguyễn Văn Tuyết chất vấn về cơ chế quản lý vàng trong thời gian qua chưa hiệu quả, chưa đưa được giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới và tại sao không đặt vấn đề quản lý chất lượng vàng mà đi quản lý nhãn hiệu? Tôi xin trình bày như sau:

Lý do chưa đưa được giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới tôi đã trình bày ở phần trên. Phần cơ chế quản lý vàng chưa hiệu quả tôi cũng đã trình bày ở phần trên, vì trong một thời gian dài chúng ta chưa quản lý chặt chẽ nên nay chúng ta lập lại trật tự.

Vấn đề không quản lý chất lượng mà đặt vấn đề quản lý thương hiệu vàng, như tôi đã trình bày, thị trường vàng trong thời gian trước đây không được quản lý chặt chẽ, kể cả về chất lượng vàng. Vì vậy, cần phải nhanh chóng xây dựng một nghị định mới để có cơ sở pháp lý quản lý thị trường này, trong đó có quản lý chất lượng vàng để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người nắm giữ vàng. Đã có một lượng vàng rất lớn đã được dập thành vàng miếng với khoảng 8 thương hiệu khác nhau, trong đó lượng vàng mang nhãn hiệu SJC được thị trường lựa chọn trong vòng hơn mười mấy năm qua chiếm tới hơn 90% thị phần. Điều này không có nghĩa là Công ty SJC có 90% lượng vàng của thị trường mà lượng vàng mang thương hiệu SJC chiếm tới 90% và lượng vàng này nằm trong dân cũng như trong tất cả các đơn vị kinh tế khác có nắm giữ vàng. Theo quy định hiện hành, trách nhiệm đối với các loại hàng hóa là do chính người sản xuất phải chịu trách nhiệm.

Trên cơ sở khối lượng cũng như chất lượng vàng SJC đã được thị trường lựa chọn trong nhiều năm qua, chúng tôi tiến hành củng cố, chấn chỉnh lại chất lượng vàng miếng thông qua hai bước. Bước thứ nhất, chuẩn hóa vàng trên thị trường về một loại vàng có chất lượng và uy tín cao nhất là vàng SJC. Bước thứ hai, sau khi chuẩn hóa vàng trên thị trường về một loại, có thể NHNN sẽ chính thức có mác vàng riêng của mình để phát hành song song. Kinh nghiệm về đổi tiền cho chúng ta thấy, việc đổi nhãn mác chỉ hiệu quả khi thị trường tương đối ổn định.

Trước đây, không có quy định nào về kiểm soát chất lượng vàng, các đơn vị, cử hàng bán vàng không có máy kiểm định chất lượng. Sắp tới, các đơn vị kinh doanh vàng miếng sẽ được ngân hàng nhà nước cấp giấy phép theo quy định mới tại Nghị định 24 và phải tuân thủ tiêu chí về chất lượng do ngân hàng nhà nước quy định. Trong thời gian qua, chúng tôi đã khảo sát nhiều nơi để xem xét việc quy chuẩn máy kiểm định chất lượng. Hiện nay, máy kiểm định tốt nhất dùng đến kỹ thuật hạt nhân có giá khoảng 34 nghìn USD. Qua làm việc với Viện Năng lượng hạt nhân Đà Lạt, chúng tôi thấy rằng, có thể chế tạo được loại máy này ở trong nước với chất lượng đảm bảo.

Những bước chúng ta đang triển khai hiện nay nhằm mục đích tiến tới một thị trường vàng miếng được chuẩn hóa về chất lượng, về giao dịch và về hệ thống bán lẻ.

Vấn đề thứ hai, Đại biểu Nguyễn Văn Tuyết hỏi về nguyên nhân, biện pháp khắc phục nợ xấu. Nội dung này tôi đã trình bày ở trên và chúng ta cũng đã bàn nhiều lần rồi.

Về chất vấn của Đại biểu Mỹ Hương. Thứ nhất là vấn đề nợ xấu quá lớn trong hệ thống ngân hàng thương mại, trách nhiệm của ngân hàng thương mại và các biện pháp xử lý?

Về biện pháp tôi đã trình bày ở phần trên. Tôi xin báo cáo về trách nhiệm của các ngân hàng thương mại. Vừa rồi, qua đẩy mạnh hoạt động thanh tra, giám sát của các tổ chức tín dụng, chúng tôi thấy nhiều tổ chức tín dụng, chủ yếu là tổ chức tín dụng cổ phần nhỏ yếu kém có chất lượng tín dụng rất kém. Có những tổ chức tín dụng báo cáo nợ xấu chỉ khoảng 1,2% đến hơn 3%, nhưng qua kết quả thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, có tổ chức tín dụng có nợ xấu lên đến vài chục phần trăm. Như tôi đã trình bày ở trên, trách nhiệm này trước hết là trách nhiệm của tổ chức tín dụng. Để xử lý vấn đề này, chúng tôi kiên quyết yêu cầu các tổ chức tín dụng này phải chấp hành đúng quy định về trích lập dự phòng rủi ro, dù lợi nhuận không còn hoặc phải sử dụng vốn điều lệ và vốn tự có để bù đắp. Nếu vốn điều lệ của ngân hàng không đảm bảo mức vốn pháp định thì các cổ đông phải có biện pháp bổ sung để đảm bảo hồi phục lại tình hình tài chính lành mạnh của tổ chức tín dụng. Đó cũng là mục đích chúng ta tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trong thời gian vừa qua. Các sai phạm của tổ chức tín dụng sẽ được xử lý nghiêm minh, đúng theo quy định của pháp luật. Nếu sai phạm về kinh tế phải xử lý theo pháp luật về kinh tế, trong đó tạo điều kiện cho đối tượng sai phạm có biện pháp khắc phục những hậu quả kinh tế đã gây ra.

Ý thứ hai, Đại biểu hỏi về xử lý dự phòng để xử lý nợ xấu, tôi đã trình bày ở trên. Tôi xin làm rõ thêm là xử lý nợ xấu như thế nào cho công bằng khi sử dụng nguồn dự phòng. Theo quy định của NHNN, có hai loại trích dự phòng, một là trích dự phòng cụ thể, hai là trích dự phòng chung. Trích dự phòng chung là để đảm bảo hoạt động chung của hệ thống ngân hàng, vì trong hệ thống ngân hàng có rất nhiều rủi ro, có những rủi ro không thể lường đoán trước được. Trích dự phòng cụ thể gắn trực tiếp với từng khoản vay và là trích dự phòng chính của hệ thống ngân hàng. Ví dụ, nợ nhóm 4 thì phải trích lập dự phòng rủi ro 50% khoản nợ, nợ nhóm 5 thì phải trích lập đủ 100% khoản nợ đó. Do vậy, khi sử dụng nguồn trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu sẽ sử dụng theo từng khoản dự phòng đã trích lập cho từng khoản nợ xấu.

Ý thứ ba, Đại biểu hỏi về giải pháp của Nhà nước đối với khó khăn của doanh nghiệp, Thống đốc có chia sẻ gì không, có biện pháp gì để tăng trưởng tín dụng. Trong phần trình bày ở trên, tôi đã nêu rất rõ các nội dung này. Trong thời gian quan, tôi và Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã trực tiếp đến 36 tỉnh, thành trong cả nước và phối hợp với cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành tổ chức gặp gỡ, đối thoại với các doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Chúng tôi đã khẳng định với nhau, ngân hàng với doanh nghiệp như hình với bóng, phải có doanh nghiệp thì mới có ngân hàng, doanh nghiệp muốn phát triển được thì phải dựa vào ngân hàng. Vì vậy, chúng tôi hết sức chia sẻ với những khó khăn của doanh nghiệp.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Đồng chí đi nhiều, đồng chí cũng thấy nhiều doanh nghiệp kêu là không tiếp cận được vốn ngân hàng. Bây giờ những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, doanh nghiệp phải trả nợ thì đã đành, nhưng doanh nghiệp đang làm ăn được, muốn vay chút nữa để tiếp tục ổn định, phát triển thì vẫn không tiếp cận được, cái khó ở chỗ ấy.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Tôi xin khẳng định, hệ thống ngân hàng hết sức chia sẻ với doanh nghiệp. Trong giai đoạn vừa qua, như tôi đã báo cáo ở trên, đã có tới 250.000 tỷ đồng được ngân hàng cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp. Cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp cũng có nghĩa ngân hàng cơ cấu lại chính lợi nhuận của họ. Tôi cũng xin khẳng định, nếu doanh nghiệp nào đáp ứng được hoặc đáp ứng gần được yêu cầu vay vốn mà không vay được vốn từ ngân hàng thì các doanh nghiệp phản ánh về Ngân hàng Nhà nước. Với tư cách là Thống đốc NHNN, tôi sẽ chỉ đạo toàn hệ thống ngân hàng cấp tín dụng mới với lãi suất hợp lý ngay cho các doanh nghiệp.

Tôi xin báo cáo thêm, có nhiều ngân hàng báo cáo họ đang đốt đuốc đi tìm doanh nghiệp, nhưng cho vay phải đảm bảo nguyên tắc thu hồi được vốn. Tôi cũng đã chỉ đạo các TCTD cố gắng chia sẻ khó khăn với các doanh nghiệp với tinh thần cao nhất. Có thể khẳng định, chúng tôi đang hết sức quyết tâm hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn vì khó khăn của doanh nghiệp là khó khăn của ngân hàng.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Như vậy có vấn đề đặt ra là ý kiến của đại biểu và ý kiến của đồng chí chưa thực sự gặp nhau, cho nên chúng ta cần phải bám sát thực tế hơn để xem có tình hình là doanh nghiệp làm ăn được cần vay mà lại không vay được không. Cần bám sát hơn để xem lại tình hình này.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Báo cáo Chủ tịch Quốc hội, trong thời gian vừa qua chúng tôi đã phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đến từng phường, từng quận để kết hợp 3 bên, doanh nghiệp, ngân hàng và chính quyền địa phương với ngân hàng nhà nước xem xét khó khăn của từng doanh nghiệp để có biện pháp tháo gỡ, hỗ trợ cụ thể, chính xác. Những khó khăn về giấy tờ thì chính quyền địa phương sẽ hỗ trợ, khó khăn trong quan hệ tín dụng ở ngân hàng nào thì ngân hàng đó hỗ trợ. Cách làm này hiệu quả rất cao và chúng tôi đang muốn nhân rộng kinh nghiệm này trong phạm vi cả nước để làm sao có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên trong giải quyết vấn đề.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Bây giờ tiếp tục phối hợp để tìm ra nơi cần vay, giải quyết cho vay thế mới là tuy hai như một.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Về ý kiến của đại biểu Trần Ngọc Vinh, ý kiến thứ nhất là Luật tín dụng có hiệu lực gần 1 năm, NHNN mới có hướng dẫn về hoạt động ủy thác của TCTD. Tôi xin báo cáo như sau: hoạt động nhận ủy thác của các TCTD là hoạt động bình thường của các TCTD và đã được NHNN hướng dẫn, quy định từ trước đây. Nhưng trong hơn một năm vừa qua, hoạt động ủy thác đã có nhiều biến tướng và đã phát sinh một số vụ án trong lĩnh vực này làm cho hoạt động kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, chúng tôi đã bổ sung thêm một số quy định mới để hoạt động này lành mạnh hơn và được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Nội dung thứ hai, trước đây chi phí dập vàng miếng chỉ có 7.000- 8.000đồng/ lượng mà tại sao Ngân hàng Nhà nước lại quy định 50.000đ/lượng. Tôi xin báo cáo như sau: Với tư cách là Thống đốc NHNN, tôi đã đề nghị các vụ chức năng báo cáo về lịch sử sản xuất vàng miếng trong nước và tôi chưa thấy có đơn vị nào, kể cả Công ty SJC (là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Nhà nước do Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh làm chủ đại diện) và có thời điểm nào chi phí dập vàng miếng với giá 7.000-8.000 đồng/lượng.

Chúng tôi xin khẳng định, trước đây SJC đã có một khung giá, nhưng khi thị trường có sốt về vàng, tất cả các đơn vị khác có vàng thỏi cần dập ra vàng miếng thì đều đem đến SJC để gia công nên có ý kiến phản ánh là SJC thu phí gia công không phải là 40.000-50.000đ/lượng mà cao hơn rất nhiều. Để thống nhất một mức giá hợp lý trong gia công vàng miếng, Ngân hàng Nhà nước đã qui định mức giá gia công tại SJC hiện nay là 50.000đ/lượng. Đây là mức giá được qui định trên cơ sở tính toán đầy đủ các chi phí phát sinh trong quá trình gia công vàng miếng tại Công ty SJC.

Ý thứ ba về giải pháp làm lành mạnh thị trường vàng và liên thông với thị trường vàng thế giới, Tôi xin trả lời Đại biểu như sau:

Lành mạnh hóa thị trường vàng là mong muốn chung của chúng ta. Vì vậy, trong đề án về thị trường vàng, chúng tôi đã xây dựng lộ trình thực hiện gồm 3 bước như sau: Bước một là xây dựng khuôn khổ pháp lý Bước hai là chấm dứt hoạt động huy động và cho vay bằng vàng trong hệ thống các tổ chức tín dụng; bước ba là chuyển hoàn toàn quan hệ huy động – cho vay sang quan hệ mua bán. Việc triển khai thực hiện các nội dung quy định tại Nghị định 24 từ vấn đề nhập khẩu, xuất khẩu, chế biến, sản xuất vàng miếng cho đến lưu thông vàng miếng, kiểm tra chất lượng vàng miếng và mua bán vàng miếng… đang là các bước đi nhằm làm lành mạnh hóa thị trường vàng ở Việt Nam.

Về liên thông với thị trường vàng thế giới, Tôi xin khẳng định không có chủ trương liên thông với vàng thế giới vì nếu liên thông có nghĩa là chúng ta chấp nhận trở lại thị trường đầu cơ về vàng như trước đây, cái mà chúng ta đang chống và đã rất vất vả để đạt được kết quả như hiện nay.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Thưa các đại biểu Quốc hội,

Thời gian buổi sáng còn 15, buổi chiều Thống đốc sẽ trả lời thêm đến giờ giải lao. Tôi đề nghị 3 đại biểu đặt câu hỏi lại và một số đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi thêm. Đề nghị các đại biểu đặt câu hỏi gọn thôi.

Nguyễn Văn Tuyết - Bà Rịa - Vũng Tàu

Kính thưa Quốc hội,

Thưa Thống đốc,

Lý giải của Thống đốc về giá vàng trong nước và giá vàng thế giới tôi thấy chưa thuyết phục. Thống đốc nói không ảnh hưởng gì đến kinh tế vĩ mô, không có lý do gì để bình ổn, vậy vì sao trong Nghị quyết 21 năm 2011 của Quốc hội có nêu: phấn đấu không để giá vàng trong nước chênh lệch giá vàng thế giới và Nghị quyết chúng ta vừa thông qua mới đây cũng nêu khắc phục bất cập trong quản lý ổn định thị trường vàng, trong nước liên thông với giá vàng quốc tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của người dân. Với câu trả lời của Thống đốc như vậy, Thống đốc có thực hiện Nghị quyết của Quốc hội hay không?

Thống đốc có nói vừa qua các ngân hàng thu hút 60 tấn vàng để chuyển thành tiền phát triển sản xuất kinh doanh như vậy là tốt, nhưng có phải đưa vào sản xuất kinh doanh hay để trả nợ cho dân đã gửi vàng khi ngân hàng nhà nước không cho huy động vàng. Xin cảm ơn Thống đốc, xin hết.

Đàng Thị Mỹ Hương - Ninh Thuận

Kính thưa Thống đốc,

Tôi nhận thấy Thống đốc chưa trả lời rõ về giải pháp cụ thể để tăng trưởng tín dụng. Thực tế tổ chức tín dụng hoạt động là để kinh doanh có lãi, qua trả lời của Thống đốc rất khó trong việc tìm đối tượng tốt để cho vay. Xin hỏi Thống đốc tiền huy động vào đi đâu, làm sao có thể tăng trưởng được tín dụng và điều kiện được vay phải có khách hàng loại A mà không có nợ xấu, như vậy để tìm được đối tượng tốt thì tìm ở đâu ra? Xin Thống đốc đi trực tiếp vào nội dung câu hỏi này. Xin trân trọng cảm ơn Thống đốc.

Trần Ngọc Vinh - TP Hải Phòng

Trước hết xin cảm ơn Thống đốc đã trả lời những vấn đề tôi đặt ra. Nhưng Thống đốc cũng vừa thừa nhận có những bất cập trong sự chậm trễ ban hành Thông tư 04. Chúng tôi đặt vấn đề là sự chậm trễ ban hành Thông tư 04 hướng dẫn về vấn đề nhận ủy thác của tổ chức tín dụng theo quy định của luật tại Điều 106, Luật Các tổ chức tín dụng. Dư luận cho rằng độ trễ quá lớn là một năm 2 tháng để ban hành thông tư thì tạo điều kiện cho tham nhũng và lợi ích nhóm và tạo điều kiện lũng đoạn thị trường tài chính, xin bộ trưởng làm rõ vấn đề này. Xin cảm ơn.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Về câu hỏi bổ sung của Đại biểu Nguyễn Văn Tuyết, Nghị quyết của Quốc hội năm 2011 có ghi là đảm bảo giá vàng trong nước và giá vàng thế giới sát nhau. Tôi xin báo cáo như sau: để thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, NHNN đã phải cho phép nhập khoảng 15 tấn vàng vào quý IV năm 2011 để đảm bảo cho giá vàng trong nước và giá vàng thế giới bám sát nhau. Đến nay, môi trường pháp lý đã thay đổi. Kể từ khi Nghị định 24 có hiệu lực vào ngày 25/5/2012, chúng tôi đã kiên quyết không cho phép nhập 1kg vàng nào nữa.

Về dự thảo nghị quyết của Quốc hội lần này vẫn có nội dung đảm bảo giá vàng trong nước và giá vàng thế giới sát nhau. Chúng tôi đã báo cáo Chính phủ và Chính phủ đã chính thức có ý kiến về nội dung này trong dự thảo nghị quyết của Quốc hội lần này.

Đại biểu Mỹ Hương hỏi về các giải pháp để tăng tưởng tín dụng, tiền huy động đi đâu, Tôi xin báo cáo như sau: Như tôi đã trình bày ở trên, thanh khoản của hệ thống ngân hàng mới được cải thiện, chưa vững chắc, chưa bền vững. Về vấn đề tiền của chúng ta đi đâu, nếu Đại biểu có điều kiện đến NHNN, các đơn vị chức năng của NHNN sẽ báo cáo Đại biểu nội dung cụ thể của bảng cân đối tiền tệ toàn ngành Ngân hàng, lúc đó Đại biểu sẽ thấy rõ tiền của hệ thống ngân hàng nằm ở đâu. Nội dung cụ thể của Bảng cân đối này không được phép công bố công khai nên tôi xin báo cáo sơ bộ như sau: Năm 2012, tăng trưởng huy động của hệ thống ngân hàng khoảng 14%, tương đương khoảng 400.000 tỷ. Trong khi, tăng trưởng tín dụng đến tháng 10 là 3,36%, tương đương khoảng 80.000 tỷ; các ngân hàng mua 183.000 tỷ trái phiếu Chính phủ; NHNN hút bớt tiền về khoảng trên dưới 30.000 tỷ để điều tiết lãi suất liên ngân hàng đang xuống quá thấp; các ngân hàng thương mại đang gửi tại NHNN xấp xỉ 100.000 tỷ, trong đó hơn 50.000 tỷ là dự trữ bắt buộc và gần 50.000 tỷ là tiền dư thừa; còn khoảng 40.000 tỷ là tiền đảm bảo thanh toán đang nằm tại quỹ của các ngân hàng thương mại. Như vậy, Đại biểu đã thấy rõ tiền huy động được sử dụng như thế nào.

Còn việc chậm trễ ban hành Thông tư 04, như tôi đã báo cáo, trước đây, Ngân hàng đã có các văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, qua thực tiễn thanh tra, giám sát, chúng tôi thấy hoạt động này đã có nhiều biến tướng khó kiểm soát, ảnh hưởng đến sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Sau một thời gian khảo sát, nắm bắt tình hình, chúng tôi đã ban hành thông tư mới để đảm bảo hoạt động này lành mạnh hơn và được kiểm soát chặt chẽ hơn. Tôi mới lên làm Thống đốc được hơn một năm, cũng cần có thời gian để nắm bắt cụ thể tình hình, rất mong Đại biểu hết sức thông cảm.

Nguyễn Thị Hồng Hà - TP Hà Nội

Kính thưa Quốc hội,

Tôi xin trân trọng cảm ơn Thống đốc đã gửi trả lời đầy đủ các ý kiến chất vấn của tôi từ rất sớm. Tuy nhiên trong 5 vấn đề Thống đốc trả lời tôi thấy còn có những nội dung chưa rõ, xin nêu cụ thể để nghe ý kiến của Thống đốc:

Thứ nhất, về tình hình nợ xấu trong hệ thống tổ chức tín dụng, theo trả lời của Thống đốc thì hiện nay các công ty mua bán nợ của Bộ tài chính và của các ngân hàng thương mại hoạt động không hiệu quả và ngân hàng Nhà nước đang xây dựng đề án thành lập công ty quản lý tài sản. Vậy xin Thống đốc cho biết đây có phải là thiết chế cho phép xử lý hiệu quả nợ xấu ngân hàng trong tình hình hiện nay hay không? việc thành lập công ty quản lý tài sản để tham gia quản lý nợ xấu nhưng chỉ do ngân hàng Nhà nước xây dựng và quản lý, như vậy có phù hợp với chức năng quản lý nhà nước và phù hợp với chức năng quản lý thị trường hay không, liệu điều đó có tạo cơ chế dung dưỡng lợi ích nhóm trong hoạt động ngân hàng nói chung và trong xử lý nợ xấu nói riêng như dư luận hiện nay đang lo ngại.

Thứ hai, việc ngân hàng nhà nước chỉ cho phép trong vòng 6 tháng theo tôi là rất ngắn để người dân chuyển đổi từ vàng phi SJC sang SJC theo Nghị định 24 và trong 2 tháng các ngân hàng cổ phần thương mại huy động và rồi lại cấm huy động theo Thông tư 16. Với tâm lý mua vàng trữ trong dân đã có từ lâu đời và cùng với yếu tố mất giá của tiền thì liệu chủ trương xóa bỏ thói quen mua trữ vàng trong dân của ngân hàng nhà nước có duy ý chí hay không. Phải chăng chủ trương trên là một trong những nguyên nhân làm tăng giá vàng trong nước khiến giãn cách với giá vàng thế giới ngày càng lớn và gây thiệt hại cho người mua vàng trong nước. Trách nhiệm của Ngân hàng nhà nước trong quản lý điều hành thị trường vàng đến đâu. Thực tế cho thấy chủ trương trên đi ngược lại với cơ chế thị trường và làm mất đi ý nghĩa kinh tế xã hội của việc thực hiện độc quyền thương hiệu vàng quốc gia gây tâm lý nghi ngờ bị lợi ích nhóm chi phối. Tới đây Thống đốc có giải pháp nào có thể tạo được lòng tin trong dân để huy động được nguồn lực tài chính lớn dưới dạng vàng miếng còn nằm trong két sắt của người dân.

Thứ ba, mặc dù cả lãi suất cho vay và đi vay đã giảm trong những tháng đầu năm 2012 theo chỉ đạo của ngân hàng nhà nước, nhưng tăng trưởng tín dụng của ngân hàng không tăng, nhiều doanh nghiệp vẫn không tiếp cận được với dòng vốn lãi suất thấp vì các ngân hàng đưa ra nhiều hàng rào kỹ thuật để đảm bảo an toàn vốn do đầu vào là tiền gửi của dân cũng giảm vì lãi suất giảm. Nhiều người dân vẫn chọn vàng là nơi cất giữ tài sản và nhu cầu vàng lại tăng, giá vàng không giảm, như vậy các doanh nghiệp không thể tiếp cận được nguồn vốn để phát triển sản xuất, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế. Các biện pháp quản lý vàng, quản lý lãi suất ngân hàng đều không phát huy được tác dụng. Xin Thống đốc cho biết trách nhiệm của mình trong vấn đề này. Ba vấn đề tôi nêu có thể trùng nhưng câu hỏi của tôi hy vọng là không trùng, rất mong được biết ý kiến của Thống đốc. Xin cảm ơn Thống đốc.

Hoàng Thị Tố Nga - Nam Định

Kính thưa Quốc hội.

Kính thưa Thống đốc.

Tôi xin hỏi Thống đốc về vấn đề tín dụng cho ngành chăn nuôi, thủy sản.

Từ đầu năm 2012 đến nay ngành chăn nuôi và thủy sản gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều hộ chăn nuôi lợn, gà, cá tra thua lỗ, thiếu vốn đã phải giảm quy mô đàn hoặc ngừng sản xuất. Theo thống kê của Cục chăn nuôi, hiện nay cả nước chỉ còn 7.000 trang trại chăn nuôi, giảm 10.000 trang trại so với năm 2011. Trước tình hình đó ngày 8-8-2012, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 1149/TTg-KTN về chính sách đối với người chăn nuôi và thủy sản, trong đó có nội dung giao ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ngân hàng thực hiện giãn nợ tối đa là 24 tháng và hạ lãi suất đối với khoản đã vay, tiếp tục cho vay với lãi suất thấp nhất là 11%/năm cho các hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển sản xuất, chăn nuôi, giết mổ, ướp đông, chế biến thịt lợn, thịt gia cầm, nuôi và chế biến thịt cá tra xuất khẩu. Tôi nhận thấy đấy là một trong những giải pháp cấp bách của Chính phủ, rất có ý nghĩa để giúp người sản xuất vượt qua giai đoạn vô cùng khó khăn này. Tôi đã biết ngày 20-8-2012, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản chỉ đạo 5 ngân hàng thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản nói trên. Tuy nhiên, trong thực tế, hầu hết người chăn, nuôi đặc biệt là các trang trại chưa tiếp cận được với chính sách ưu đãi về vốn của Chính phủ. Tôi xin hỏi Thống đốc:

Thứ nhất, Thống đốc có nắm được cụ thể về thực trạng này không? Xin Thống đốc cho biết trách nhiệm của Thống đốc về vấn đề này như thế nào?

Thứ hai, trong thời gian tới, Thống đốc có giải pháp gì cho người chăn nuôi, thủy sản được vay vốn để duy trì và phát triển sản xuất.

Xin cảm ơn Thống đốc. Xin cảm ơn Quốc hội.

Trịnh Ngọc Phương - Tây Ninh

Kính thưa Quốc hội,

Kính thưa Thống đốc,

Tôi xin có 2 vấn đề đặt câu hỏi với Thống đốc.

Vấn đề thứ nhất, phàm cái xấu chẳng bao giờ ai đem đi cho và người được cho chẳng bao giờ dám nhận, ngược lại đã cho rồi không ai dại gì đi đòi. Tuy nhiên cái gọi là nợ xấu mà ngành ngân hàng bấy lâu nay sử dụng xin Thống đốc cho biết nó như thế nào và cơ cấu của nó ra sao. Mặc dù Thống đốc đã trả lời trước đó cũng như Thống đốc đã cho biết nguyên nhân và giải pháp, nhưng tôi muốn biết cụ thể thêm trong nền kinh tế của chúng ta hiện nay từng ngành, từng nghề nào được ngân hàng đòi lại cái xấu và có hay không việc lợi dụng nợ xấu để khuynh đảo nền kinh tế của các nhóm lợi ích.

Vấn đề thứ hai, trong thời gian qua việc tạo điều kiện cho nông dân vay vốn có rất nhiều chính sách từ phía ngân hàng, tuy nhiên cũng còn gặp rất nhiều bất cập, nhất là đối với nông dân nghèo. Cụ thể khi người dân đi vay số tiền 10 triệu đồng thì bản thân người dân phải để lại thế chân 1 triệu đồng cộng với tiền lãi vay 6 tháng, như vậy trên giấy tờ tiền vay là 10 triệu nhưng thực chất không đến 10 triệu. Mặt khác khi đến thời điểm đáo hạn phải nộp đủ 10 triệu từ đó dẫn đến nhiều trường hợp nông dân nghèo lại nghèo thêm do đi vay nóng bên ngoài để đáo hạn. Càng khó hơn nếu ngân hàng không cho tiếp tục vay, vô hình chung nông dân sẽ thành con nợ bên ngoài với lãi suất cao ngất ngưởng dẫn đến thêm bần cùng. Như vậy, theo Thống đốc cách làm của ngân hàng đã đúng chưa, nếu còn bất cập thì theo Thống đốc có giải pháp nào để hỗ trợ cho nông dân trong việc vay vốn phát triển sản xuất. Xin hết, xin cảm ơn.

Vũ Thị Hương Sen - Hải Dương

Kính thưa Quốc hội.

Kính thưa Thống đốc.

Tôi có ba câu hỏi xin gửi đến Thống đốc.

Thứ nhất, nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường có định hướng của nhà nước thì khi cần thiết nhà nước có thể áp dụng các biện pháp hành chính để can thiệp, tuy nhiên việc can thiệp sâu và kéo dài đang làm méo mó thị trường, đặc biệt thị trường tiền tệ và thị trường vàng, dẫn đến hệ lụy gây thiệt hại cho các doanh nghiệp và người dân. Nhiều cử tri cho rằng, Ngân hàng Nhà nước đang tạo nên độc quyền doanh nghiệp đối với kinh doanh vàng miếng và sự chênh lệch trên 3 triệu đồng một lượng so với giá vàng thế giới là do độc quyền doanh nghiệp thao túng. Đặc biệt nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 8 của Chính phủ về kiềm chế lạm phát đã nêu không để tái diễn tình trạng hỗn loạn tỷ giá vàng, điều hành giá vàng liên thông với giá vàng thế giới. Quan điểm của Thống đốc về vấn đề này như thế nào và Ngân hàng Nhà nước sẽ làm gì để khắc phục tình trạng trên?

Thứ hai, việc kinh doanh lời ăn, lỗ chịu là quy luật thị trường, nhưng hình như với các doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nói riêng thì lời doanh nghiệp hưởng, lỗ đẩy sang nhà nước chịu. Tình trạng nợ xấu ngân hàng ở mức rất cao hiện nay có sự tiếp tay của một số cán bộ lãnh đạo và nhân viên các ngân hàng. Song mới chỉ thấy một số vụ được cơ quan điều tra phát hiện. Đề nghị Thống đốc cho biết từ khi ở cương vị đứng đầu ngành đến nay, hệ thống Ngân hàng Nhà nước đã phát hiện và xử lý được bao nhiêu vụ và làm thế nào để ngăn chặn tình trạng này trong thời gian tới?

Thứ ba, trong phần trả lời các đại biểu trước tôi, Thống đốc nói 46% nợ xấu được bảo đảm bằng tài sản thế chấp, ở đây đặt ra hai vấn đề xin Thống đốc làm rõ: Thứ nhất, tài sản đó có dễ bán để thu hồi được vốn hay không? Thứ hai, khi bán đấu giá tài sản thế chấp thì số tiền thu được có đủ trả nợ nhà nước hay không? Vì nhiều tài sản đã bị nhân viên ngân hàng thẩm định trước khi cho vay vốn nâng gấp rất nhiều lần so với giá trị thực của tài sản. Tôi xin hết, xin cảm ơn Thống đốc.

Đỗ Mạnh Hùng - Thái Nguyên

Kính thưa Quốc hội,

Thưa Thống đốc,

Tôi xin có 3 câu hỏi.

Câu hỏi thứ nhất, có nhiều ý kiến cho rằng 3 vấn đề sau đều liên quan đến nợ xấu và có trách nhiệm của ngân hàng nhà nước. Thứ nhất là chính sách quản lý vàng vừa qua có những bất cập tạo ra độ chênh của giá vàng trong nước và thế giới làm cho một số người được lợi và một số người thiệt hại, tạm gọi là lỗ trong kinh doanh vàng. Vấn đề thứ hai là việc dồn vốn cho một số lĩnh vực như bất động sản, chứng khoán góp phần tạo nên thị trường ảo, tạo nên hiện tượng bong bóng. Vấn đề thứ ba là việc các ngân hàng nợ lẫn nhau trong điều kiện có tình trạng thiếu minh bạch, thiếu lành mạnh trong hoạt động vay và cho vay. Đề nghị Thống đốc cho biết 3 vấn đề trên có ảnh hưởng gì đến nợ xấu không và trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước như thế nào.

Câu thứ hai, trong xử lý nợ xấu Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất thành lập công ty mua bán nợ hay công ty quản lý tài sản. Xin hỏi Thống đốc một số nội dung mà cử tri băn khoăn. Thứ nhất, nói là công ty mua bán nợ nhưng cụ thể công ty dự kiến mua tài sản gì, mua của ai, mua với giá như thế nào, sẽ bán như thế nào và nguồn tiền ở đâu. Thứ hai, có dự kiến công ty đó được phát hành trái phiếu không và nếu có trái phiếu thì trái phiếu đó có được dùng làm tài sản đảm bảo để vay vốn Ngân hàng Nhà nước. Thứ ba, nếu tự thành lập công ty đó sẽ có mô hình tổ chức như thế nào, trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính hay một mô hình khác.

Câu thứ ba, có ý kiến cho rằng có tiêu cực trong tái cấu trúc ngân hàng. Ví dụ không công khai tiêu chí thanh tra bất thường và sau đó có kết luận áp đặt. Ý kiến Thống đốc về vấn đề này như thế nào. Nhân đây xin đề nghị một ý mà đại biểu Hương Sen vừa nói: Thống đốc cho biết trách nhiệm của mình trong việc để xảy ra một số vụ vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong lĩnh vực ngân hàng vừa qua. Mong Thống đốc trả lời ngắn gọn để không ảnh hưởng đến chất vấn của những đại biểu sau. Xin cảm ơn Thống đốc.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Kính thưa toàn thể Quốc hội, sáng nay còn một số ý kiến đã nêu ra nhưng thời gian có hạn nên tôi chưa trả lời được. Tôi xin phép tiếp tục trả lời những ý kiến sáng nay trước và lần lượt trả lời các ý kiến Đại biểu mới chất vấn.

Sáng nay trong phần trả lời chất vấn đại biểu Hồng Hà đã có nội dung về nợ xấu nên tôi xin phép không nhắc lại. Đại biểu Hồng Hà quan tâm đến việc thành lập công ty mua bán nợ, cơ chế hoạt động của công ty này có biểu hiện gì của lợi ích nhóm hay không và lý do tại sao công ty mua bán nợ của Bộ Tài chính và của các ngân hàng thương mại hoạt động chưa hiệu quả. Tôi xin báo cáo như sau:

Mô hình Công ty quản lý tài sản đã được các nước trong khu vực và thế giới áp dụng để xử lý nợ xấu trong thời gian khủng hoảng. Để góp phần xử lý nợ xấu, Chính phủ đã giao NHNN chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu kinh nghiệm trong và ngoài nước để đề xuất mô hình, nội dung hoạt động của Công ty quản lý tài sản của Việt Nam, trình tập thể Chính phủ cho ý kiến. Vì vậy, đề án này không phải là đề án của riêng NHNN mà là Đề án của Chính phủ. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước và thực tế tại Việt Nam, chúng tôi đang bước đầu dự thảo Đề án thành lập Công ty quản lý tài sản với những nội dung đúng như Đại biểu Quốc hội đã nêu, trong đó mô hình tổ chức của công ty có sự tham gia quản trị, điều hành của các bộ, ngành và các bộ, ngành cũng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động, xử lý nợ xấu của công ty này. Theo chương trình, sau kỳ họp này của Quốc hội, Chính phủ sẽ chỉ đạo tất cả các bộ, ngành cho ý kiến đối với Đề án này. Đề án thành lập công ty quản lý tài sản chỉ là một trong số các giải pháp xử lý nợ xấu. Vì Đề án chưa được duyệt và công ty cũng chưa được thành lập nên trong giai đoạn hiện nay chúng ta chưa có cơ sở để nói đến vấn đề lợi ích nhóm.

Về vấn đề tại sao lại bắt người dân phải chuyển đổi từ các vàng khác SJC sang vàng SJC. Báo cáo các vị đại biểu Quốc hội, Nghị định 24 không có qui định nào bắt người dân phải chuyển đổi các loại vàng miếng nhãn hiệu khác sang vàng miếng nhãn hiệu SJC. Kể từ sau ngày 25/5/2012 là ngày Nghị định 24 có hiệu lực, tất cả các loại vàng miếng có nhãn khác SJC đã được lưu hành từ trước đến nay vẫn tiếp tục được lưu hành bình thường.

Về vấn đề quyền lợi của người dân. Nghị định 24 quy định rất rõ việc đảm bảo đầy đủ các quyền lợi hợp pháp của người dân trong việc nắm giữ, tích trữ và mua bán vàng.

Về việc tăng trưởng tín dụng thấp có liên quan gì đến thị trường vàng. Như sáng nay tôi đã trình bày, nếu chúng ta còn để tình trạng vàng hóa như những năm qua thì một nguồn lực rất lớn của xã hội sẽ bị găm giữ vào vàng và sẽ làm hạn chế khả năng tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế nói chung. Chính việc chúng ta kiên quyết chống vàng hóa đã góp phần khơi thông được nguồn vốn này để phục vụ cho việc phát triển kinh tế của đất nước hay nói một cách khác là góp phần vào tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng đầu tư cho nền kinh tế.

Đại biểu Quốc hội Tố Nga có hỏi về việc tình hình các ngân hàng thương mại Nhà nước thực hiện giãn nợ tối đa không quá 24 tháng đối với các doanh nghiệp thủy sản, nuôi trồng, chế biến cá tra, cá ba sa cũng như chế biến thực phẩm theo Quyết định 1149 của Thủ tướng Chính phủ. Tôi xin báo cáo như sau: Ngay sau khi Quyết định 1149 được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 8/8/2012, ngày 20/8/2012 Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản 5294 hướng dẫn 5 ngân hàng thương mại có vốn chi phối của Nhà nước thực hiện quyết liệt chủ trương này. Đến nay, 5 ngân hàng này đã có văn bản hướng dẫn triển khai trong toàn hệ thống. Tính đến 31/10/2012, sau hơn 2 tháng thực hiện đã đạt được kết quả ban đầu như sau: Tổng số tiền các khoản nợ đến hạn được gia hạn là 1.216 nghìn tỷ đồng, đa số các khoản gia hạn này đều có phần gia hạn trên 12 tháng; cho vay mới 21.111 tỷ đồng, đưa tổng số dư nợ trong lĩnh vực này đạt 34.876 tỷ đồng, với 366.715 lượt khách hàng được vay vốn.

Ngày 3/10/2012, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục có văn bản số 6341 yêu cầu chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc của 5 ngân hàng thương mại Nhà nước phải tích cực chỉ đạo triển khai quyết liệt hơn nữa Quyết định 1149. Trong khi chúng ta đang ngồi họp ở đây, một Phó Thống đốc của Ngân hàng Nhà nước cũng đang họp với các ngân hàng thương mại và các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước của 13 tỉnh Tây Nam bộ để kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong triển khai Quyết định 1149. Theo chương trình, sáng mai đoàn sẽ làm việc với Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ để phối hợp xử lý nội dung này.

Kết quả đạt được trong một thời gian triển khai ngắn đã thể hiện sự quyết liệt và quyết tâm rất cao của của ngành Ngân hàng. Quá trình triển khai chương trình này cũng gặp phải một số khó khăn như: Thứ nhất, trong thời gian vừa qua giá cá tra, cá basa xuống rất thấp nên phần lớn các doanh nghiệp và người dân đều lỗ làm cho tình hình tài chính trở nên vô cùng khó khăn. Thứ hai, một số doanh nghiệp chế biến cá tra có tình hình tài chính khó khăn nên lòng tin đối với người nuôi trồng thủy sản không cao, do vậy cũng rất khó trong vấn đề thanh toán và ứng trước tiền. Thứ ba, một số doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nhưng thực trạng tài chính quá yếu kém, phương án đưa ra chưa khả thi. Cuối cùng, lãi suất theo quyết định này phải từ 11% trở xuống, trong khi nguồn vốn để các ngân hàng thương mại cho vay được với mức lãi suất này cũng không có nhiều, do vậy, đoàn công tác của một Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ phải phối hợp để tìm ra cơ chế thích hợp hơn, đẩy nhanh tốc độ giải ngân và xử lý được theo tinh thần của Quyết định 1149.

Đại biểu Trịnh Ngọc Phương hỏi về nợ xấu và có nhóm lợi ích không? Vì buổi sáng nay tôi đã trình bày khá nhiều về nợ xấu nên tôi xin trình bày sâu về phần có nhóm lợi ích không trong vấn đề làm gia tăng nợ xấu. Báo cáo đại biểu Quốc hội, trong đợt thanh tra toàn diện triển khai tích cực từ đầu năm 2012 đến nay, ngoài thanh tra các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém nằm trong diện phải tái cơ cấu lại, chúng tôi đã triển khai chương trình thanh tra đối với 27 tổ chức tín dụng trong toàn quốc. Đây là số lượng các tổ chức tín dụng được thanh tra toàn diện lớn nhất từ trước đến nay. Kết quả thanh tra cho thấy rất nhiều vấn đề như tôi đã trình bày trong sáng nay, riêng về nợ xấu nổi lên một vấn đề: có nhiều tổ chức tín dụng chi phối bởi một nhóm cổ đông và dư nợ của nhóm cổ đông này và các khách hàng có liên quan đến nhóm cổ đông này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của tổ chức tín dụng, thậm chí có tổ chức tín dụng chiếm tới 90%. Việc này vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật, đặc biệt là vi phạm quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành luật của NHNN. Trong đó, phần lớn nhóm cổ đông và khách hàng này lại liên quan đến bất động sản. Thị trường bất động sản hiện đang đóng băng nên làm cho tỷ lệ nợ xấu của nhóm khách hàng này cũng như của bản thân tổ chức tín dụng gia tăng nhanh và là nguyên nhân dẫn đến các tổ chức tín dụng đó bị thua lỗ trong thời gian vừa qua.

Về biện pháp xử lý của NHNN: Qua công tác thanh tra, giám sát của hệ thống ngân hàng cho thấy, sau quá trình phát triển quá nóng, ý thức chấp hành pháp luật của nhiều tổ chức tín dụng rất yếu kém, không phát huy được hiệu quả. Chính vì vậy, đến nay chúng tôi kiên quyết thanh tra triệt để nhằm phát hiện đầy đủ các sai phạm để có biện pháp xử lý. Tùy theo mức độ vi phạm của các tổ chức tín dụng mà có giải pháp xử lý phù hợp, như: nếu chỉ vi phạm pháp luật dân sự và pháp luật kinh tế, chúng tôi sẽ tạo điều kiện tối đa để các đối tượng vi phạm có thể khắc phục các sai phạm và khôi phục lại tình hình tài chính lành mạnh của tổ chức tín dụng mình theo nguyên tắc tiền của dân, của Nhà nước phải được đảm bảo.

Đại biểu Trịnh Ngọc Phương hỏi về cho vay nông nghiệp và nông thôn có một số biểu hiện tiêu cực. Tôi xin báo cáo với đại biểu như sau, chúng tôi xin khẳng định, lĩnh vực cho vay nông nghiệp và nông thôn là lĩnh vực cứu cánh đối với nền kinh tế của nước ta trong những năm khó khăn vừa qua và cũng là cứu cánh cho hoạt động ngân hàng trong thời gian vừa qua. Từ năm 2009 trở lại đây, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 41 về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nông nghiệp và nông thôn trong 3 năm đã tăng lên gấp đôi. Năm nay là một năm vô cùng khó khăn nên tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của hệ thống ngân hàng trong 10 tháng đầu năm mới chỉ đạt khoảng 3,36% nhưng tăng trưởng tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn tăng tới 5,3%, trong đó cho vay trong lĩnh vực thủy sản có mức tăng trưởng trên 10%, cho vay cà phê cũng có mức tăng trưởng ổn định. Đó là đóng góp của sản xuất nông nghiệp đối với ổn định kinh tế vĩ mô của đất nước cũng như hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, hoạt động cho vay trong lĩnh vực này cũng có nhiều sai phạm. Về phản ánh ngân hàng cho vay 10 triệu đồng tì bắt giữ lại 1 triệu đồng của Đại biểu Quốc hội, Tôi xin khẳng định đó là hành vi trái pháp luật và chúng tôi kiên quyết đấu tranh với hành vi vi phạm này. Vì số lượng các khoản vay rất lớn nên thành tra ngân hàng không thể phát hiện hết được nên chúng tôi mong cử tri và đại biểu Quốc hội trong toàn quốc nếu phát hiện các hành vi vi phạm cụ thể thì phản ánh ngay về Ngân hàng Nhà nước để chúng tôi kịp thời xử lý, chấn chỉnh theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, chúng tôi đã có văn bản đề nghị Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành trên cả nước cho phép Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh cũng như các ngân hàng thương mại Nhà nước được tham gia vào các đợt tiếp xúc cử tri để trực tiếp nắm bắt nội dung chất vấn của đại biểu và ý kiến kiến nghị của cử tri để kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc và sai phạm phát sinh trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Nếu có vấn đề vượt thẩm quyền thì kịp thời báo cáo Ngân hàng Nhà nước Trung ương để trực tiếp xử lý hoặc chỉ đạo các ngân hàng thương mại xử lý. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã thiết lập đường dây nóng và giao cho Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh phối hợp với các ngân hàng thương mại trên địa bàn xử lý các vụ việc tiêu cực phát sinh hoặc giải quyết cho vay đối với các dự án tốt mà doanh nghiệp, người dân không tìm được địa chỉ vay vốn, góp phần hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.

Về chất vấn của Đại biểu Vũ Thị Hương Sen.

Thứ nhất về các biện pháp hành chính nói chung và đặc biệt là các biện pháp hành chính của Ngân hàng Nhà nước tạo ra độc quyền của doanh nghiệp, như độc quyền doanh nghiệp về giá vàng, trong khi Nghị quyết của Quốc hội đã nêu không được để xảy ra hỗn loạn về giá vàng và đảm bảo giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế liên thông. Tôi xin phép trả lời như sau:

Hiện nay, Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010 cho phép trong những giai đoạn thị trường có nhiều biến động bất ổn thì NHNN được quyền áp dụng các biện pháp hành chính. Thực hiện quy định này, từ năm 2010 Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp hành chính, như trần lãi suất huy động, trần lãi suất cho vay… Đối với thị trường vàng, nếu coi việc độc quyền dập vàng miếng là một biện pháp hành chính thì biện pháp hành chính này xuất phát từ điều kiện thực tế của nước ta hiện nay.

Qua một số năm triển khai trần lãi suất mặc dù có nhiều ý kiến trái chiều, nhưng xét trên tổng thể của nền kinh tế thì nhờ có biện pháp hành chính này chúng ta mới có được mặt bằng lãi suất cho vay tương đối phù hợp, đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Ngân hàng Nhà nước cũng đang triển khai tất cả những biện pháp để kinh tế vĩ mô của đất nước ổn định hơn, vững vàng hơn, vững chắc hơn. Tuy nhiên, như sáng nay tôi đã trình bày, mặc dù thanh khoản của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng đã được cải thiện, nhưng còn hết sức mong manh. Khi thanh khoản của hệ thống được cải thiện ở một mức cần thiết thì chúng tôi sẵn sàng bỏ các quy định hành chính này.

Về vấn đề độc quyền về vàng thì tôi xin khẳng định đây là độc quyền nhà nước chứ không phải độc quyền doanh nghiệp. Theo quy định tại Nghị định số 24 thì sau ngày 25/5/2012, tất cả các doanh nghiệp trước đây được phép dập vàng miếng sẽ phải chấm dứt hoạt động này và chỉ có Nhà nước có quyền dập vàng miếng; tất cả các doanh nghiệp sẽ bình đẳng như nhau trong kinh doanh vàng miếng và các loại vàng trang sức mỹ nghệ khác theo quy định của pháp luật. Do vậy, tất cả các loại vàng miếng khác vẫn được phép lưu hành và các doanh nghiệp, người dân vẫn được phép kinh doanh vàng miếng.

Về chất vấn tài sản thế chấp có dễ bán hay không và khi bán được có đủ bù chi phí không? Tôi xin báo cáo đại biểu Quốc hội, theo quy định hiện hành, việc trích lập dự phòng rủi ro không phụ thuộc khoản vay đó có tài sản đảm bảo hay không có tài sản đảm bảo. Nếu khoản nợ đó rơi vào nhóm 4 thì tổ chức tín dụng phải trích lập 50% giá trị khoản vay, nếu rơi vào nhóm 5 thì phải trích lập 100% giá trị khoản vay. Do vậy, tổ chức tín dụng sẵn sàng bán một tài sản đảm bảo với giá chỉ bằng khoảng 20% giá trị nhận thế chấp để bù đắp một phần khoản cho vay không thu hồi được, phần còn lại sẽ được tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng rủi ro đã trích lập để bù đắp.

Về vấn đề nợ xấu cao có sự tiếp tay của cán bộ lãnh đạo ngân hàng không? Tôi xin báo cáo đại biểu Quốc hội, có những tổ chức tín dụng bị thao túng bởi 1 nhóm các cổ đông mà nhóm cổ đông này thông thường giữ các chức danh lãnh đạo trong các tổ chức tín dụng, chính vì vậy, có thể cán bộ cấp dưới biết là vi phạm nhưng cán bộ cấp trên vẫn quyết định cho vay, dẫn tới dư nợ tín dụng của một ngân hàng rơi vào một nhóm cổ đông từ đó gây ra những hệ lụy.

Về chất vấn của đại biểu Đỗ Mạnh Hùng liên quan đến vấn đề về chênh lệch giữa giá vàng trong và ngoài nước tôi xin kết hợp trả lời luôn cả ý kiến của đại biểu trước có nói đến việc có liên thông hay không như sau: Như tôi đã trình bày sáng nay, lộ trình chấn chỉnh thị trường vàng bao gồm có 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 là tạo dựng khuôn khổ pháp lý, chúng ta đã hoàn thành về cơ bản. Giai đoạn 2 là chấm dứt hoạt động huy động và cho vay bằng vàng trong hệ thống các tổ chức tín dụng. Giai đoạn 3 là chuyển toàn bộ quan hệ vay mượn sang quan hệ mua bán.

Nếu chúng ta đặt vấn đề giá vàng trong nước phải liên thông với giá vàng thế giới thì hoàn toàn đi ngược lại với mục tiêu mà chúng ta đang đặt ra. Việc liên thông giá vàng trong nước với giá vàng thế giới trong năm 2008 đã làm cho kinh tế vĩ mô bất ổn và làm cho quá trình vàng hóa trong nền kinh tế ngày càng tăng lên. Chính sự liên thông này đã tạo ra hoạt động kinh doanh, đầu cơ vàng thông qua các sàn vàng và ở một chừng mực nào đó giống như đánh bạc vì giá vàng diễn biến hết sức khó lường và sàn vàng đã thu hút một lượng vốn rất lớn. Sau khi Nghị định 24 được ban hành và triển khai thực hiện thì hiện tượng này đã được ngăn chặn một bước hết sức cơ bản.

Khi Chính phủ kiên quyết đóng sàn vàng và đóng các tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài, cũng có rất nhiều ý kiến phản đối, nhưng qua 3, 4 năm triển khai thực hiện chủ trương này, nhiều chủ sàn vàng trước đây cũng thấy rằng nếu Nhà nước còn tiếp tục để sàn vàng hoạt động thì đến nay các sàn này sẽ lỗ hàng trăm tỷ. Do vậy, chúng ta không đặt vấn đề liên thông về giá giữa thị trường vàng trong nước và thị trường vàng thế giới, nhưng bình ổn thị trường vàng là trách nhiệm của NHNN. Trong giai đoạn 3 khi chúng ta chuyển sang quan hệ mua, bán thì Ngân hàng Nhà nước sẽ đóng vai trò là người kiến tạo và người can thiệp cuối cùng vào thị trường vàng theo đúng thông lệ, chuẩn mực của Ngân hàng Trung ương các nước. Lúc đó, NHNN sẽ căn cứ vào diễn biến của giá vàng trong nước và chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ để quyết định việc bán vàng ra hay mua vàng vào một cách hợp lý, vừa nhằm mục tiêu bình ổn thị trường vàng, vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ, bảo tồn và phấn đấu tăng thêm dự trữ ngoại hối Nhà nước bằng vàng nếu điều kiện cho phép.

Hiện nay, NHNN không can thiệp ngay từ giai đoạn này, vì qua phân tích diễn biến thị trường cho thấy giá vàng trong thời gian vừa qua tăng cao nhưng không có hiện tượng sốt vàng và người dân không đổ xô đi mua vàng. Giá vàng tăng trong thời gian qua là do chủ trương của NHNN về việc chấm dứt huy động và cho vay bằng vàng. Để thực hiện chủ trường này, các tổ chức tín dụng phải mua vàng vào để trả dân, đẩy giá vàng cao lên. Như vây, đối tượng thiệt hại lớn nhất ở đây chính là các tổ chức tín dụng. Nhưng nói đi cũng phải nói lại vì trong kinh doanh, lãi, lỗ là chuyện bình thường. Trước đây, tổ chức tín dụng bán vàng của dân lấy tiền kinh doanh, trong khi lãi suất cho vay rất cao vì thế tổ chức tín dụng đã có lãi rồi, nay có phải trả lại tiền cho dân thì cũng là chuyện bình thường và hợp với đạo lý. Do vậy, NHNN không can thiệp.

Trong thời gian vừa qua chúng tôi chịu rất nhiều áp lực từ các phía, lấy danh ở nhiều góc độ khác nhau, thậm chí là dùng danh nghĩa quyền lợi của người dân ép Ngân hàng Nhà nước cho phép nhập khẩu vàng để giảm mức chênh lệch này nhưng thực tế là ép Ngân hàng Nhà nước phải dùng ngoại tệ của quốc gia để làm giảm lỗ cho một số tổ chức tín dụng và một số tổ chức kinh doanh vàng. Vì vậy, chúng tôi kiên quyết không cho phép làm việc này.

Về dư nợ bất động sản: Thị trường bất động sản có ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế nói chung và hiệu quả hoạt động của ngành Ngân hàng nói riêng. Trong thời gian trước đây, nguồn vốn rất lớn của chúng ta thông qua hệ thống tín dụng đã đổ vào bất động sản. Việc chúng ta để thị trường bất động sản tăng trưởng quá nóng có trách nhiệm từ các tổ chức tín dụng, từ chính sách tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, từ quy hoạch thị trường bất động sản... Do vậy, để có được thị trường bất động sản ổn định với mặt bằng giá hợp lý và quan trọng hơn là tăng tính thanh khoản cho thị trường là vấn đề hết sức quan trọng và đã được chúng ta bàn luận từ sáng đến giờ.

Về nợ lẫn nhau giữa các ngân hàng. Thị trường liên ngân hàng nước ta có quy mô không lớn, chỉ dao động khoảng 400-800 nghìn tỷ đồng. Đây là một thị trường rất quan trọng cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, nhưng trong suốt giai đoạn phát triển mười mấy năm vừa qua, Ngân hàng Nhà gần như không có các quy định trong việc các ngân hàng vay mượn lẫn nhau. Các ngân hàng luôn cho rằng là ngân hàng thì không được đổ vỡ, nên mặc dù ngân hàng A biết ngân hàng B rất yếu kém, thiếu thanh khoản và sẵn sàng vay với lãi suất cao nhưng vẫn bất chấp rủi ro để cho ngân hàng B vay. Điều đó dẫn tới có nhiều tổ chức tín dụng dựa vào nguồn vốn vay trên thị trường liên ngân hàng để cho vay đối với các nhu cầu của nền kinh tế, trong khi bản chất của thị trường liên ngân hàng chỉ là cho vay vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng để đảm bảo nhu cầu thanh khoản tạm thời của các tổ chức tín dụng. Đây là vấn đề nhức nhối phải xử lý.

Đại biểu Mạnh Hùng hỏi về mô hình tổ chức của công ty mua bán nợ, cơ chế mua bán, nguồn tiền, có được phát hành trái phiếu hay không, trái phiếu đó có được thế chấp vay Ngân hàng Nhà nước hay không. Về cơ bản, tất cả các nội dung này đều được đề cập và đưa ra các phương án xử lý trong đề án đang được Ngân hàng Nhà nước dự thảo. Sau khi Chính phủ thông qua về nguyên tắc, chúng tôi sẽ báo cáo chính thức với Đại biểu Quốc hội.

Ý kiến cuối cùng của Đại biểu Mạnh Hùng là có tiêu cực gì không trong tái cơ cấu và tái cơ cấu ngân hàng có gì không minh bạch. Xin báo cáo Đại biểu, quá trình tái cơ cấu lại các tổ chức tín dụng trong thời gian qua luôn bám sát tinh thần của Đề án 254 đã được Bộ Chính trị thông qua và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Từ khi triển khai thực hiện Đề án đến nay, chúng tôi chưa bắt ép tổ chức tín dụng nào phải tái cấu trúc. Chúng tôi mới triển khai bước một là vạch rõ thực trạng của tổ chức tín dụng đó xem yếu kém thế nào, không lành mạnh thế nào, có nguy cơ thế nào… và chúng tôi dành cho tổ chức tín dụng cơ hội đầu tiên là xây dựng phương án tự khắc phục. Nếu tổ chức tín dụng có thể xoay xở bằng cách bán tài sản, tìm được các cổ đông, đối tác mới đủ sức với số tiền hợp lý, nguồn gốc minh bạch thì chúng tôi cho tổ chức tín dụng được tự tái cấu trúc. Do vậy, không thể nói có lợi ích nhóm hay không có lợi ích nhóm ở đây.

Về công khai tiêu chí tái cấu trúc, báo cáo đại biểu Quốc hội, các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng vô cùng chặt chẽ, thể hiện trong Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các Tổ chức tín dụng. Các tiêu chí liên quan đến hoạt động ngân hàng được quy định cụ thể trong 2 Luật này và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn hai Luật.

Về kết luận thanh tra: Mỗi lần thanh tra, kết luận thanh tra bao giờ cũng được Đoàn thanh tra thông qua Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng đó. Các tổ chức tín dụng chấp nhận những sai phạm đó và ký vào biên bản. Theo đúng Luật Thanh tra, trong vòng 90 ngày tổ chức tín dụng có quyền khiếu nại để được xử lý nhưng đến nay chưa xảy ra hiện tượng tổ chức tín dụng khiếu nại kết luận thanh tra.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Xin cám ơn Thống đốc, thời gian dành cho Thống đốc còn 30 phút. Cho phép tôi được điều hành là có một số tỉnh đã có đại biểu phát biểu rồi, nhường tỉnh khác. Thứ hai là để không khí trao đổi sôi nổi hơn, ưu tiên một vài chuyên gia kinh tế đặt câu hỏi. Số đại biểu còn lại còn nhiều câu hỏi xin gửi tới Thống đốc sẽ lần lượt trả lời.

Trần Du Lịch - TP Hồ Chí Minh

Trước hết tôi xin cám ơn Chủ tịch Quốc hội dành ưu tiên để trao đổi lại một số vấn đề với Thống đốc.

Kính thưa Quốc hội

Kính thưa Thống đốc,

Trước hết tôi xin nói dường như Thống đốc trình bày theo logic của Thống đốc chứ không trình bày theo logic của cuộc sống. Tôi là người rất lạc quan và nghĩ rằng sau kỳ họp này chúng ta làm sao lấy lại niềm tin thị trường, với tiềm năng của đất nước năm tới chúng ta sẽ vực lên được. Nhưng qua trình bày của Thống đốc niềm tin, lạc quan của tôi giảm đi. Tôi đi thẳng vào vấn đề, Khi đánh giá về nợ xấu nhiều lúc Thống đốc trà lời cho tôi cũng như các đại biểu khác thì dường như vấn đề không nghiêm trọng như vậy. Vậy, tại sao chúng ta lại đặt vấn đề nghiêm trọng, đặt cả vấn đề lập công ty mua bán nợ, cần cả hệ thống chính trị mới giải quyết được. Đề nghị Thống đốc nói rõ vấn đề có nghiêm trọng không? Có ảnh hưởng đến hệ thống không? Có ảnh hưởng đến vấn đề hấp thụ vốn của nền kinh tế không nếu ta xử lý chậm?

Thứ hai, qua phần trình bày của Thống đốc mới rõ một điều là tất cả biện pháp siết tín dụng làm doanh nghiệp điêu đứng và nền kinh tế thiếu máu. Thống đốc nói rõ huy động 400.000 tỷ, riêng mua trái phiếu 180.000 tỷ, còn lại một phần Ngân hàng Nhà nước điều tiết về để giảm lạm phát. Như vậy, muốn giảm lãi suất trong khi đó chúng ta giảm cầu thì làm sao giảm lãi suất được. Lãi suất là quan hệ cung cầu, phải chăng Ngân hàng Nhà nước nói muốn giảm lãi suất nhưng thực tế điều hành lại không muốn. Trong vấn đề này, tôi cho rằng nền kinh tế khó khăn thế này có trách nhiệm về chính sách điều hành chính sách tín dụng, lãi suất vừa qua. Tôi muốn đối thoại một chút để làm rõ.

Vấn đề thứ ba, liên quan đến vàng, tôi đồng tình chống vàng hóa, nhưng cách thực hiện sáng nay Thống đốc trình bày dường như muốn tiêu diệt thị trường vàng, chứ không phải bình ổn thị trường vàng. Tôi xin đọc Nghị định 24 của Thủ tướng Chính phủ ký tại Điều 16, Khoản 3, điểm c: Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua, bán vàng miếng cho thị trường trong nước, tổ chức huy động vàng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Nhưng sang nay Thống đốc nói đi tới giai đoạn 3 là không huy động nữa. Sáng nay Thống đốc có nêu là chúng ta bỏ thị trường vàng không quản lý, tới khi Thống đốc lên đề xuất mới quản lý. Xin thưa vấn đề này xem lại, chúng ta có thể còn nhiều bất cập, nhưng bảo rằng đất nước này không quản lý thị trường vàng cho tới khi có Thống đốc lên làm nghị định mới quản lý là bất công cho Chính phủ quá. Tôi đề nghị làm rõ vấn đề này. Xin cám ơn

Đỗ Ngọc Niễn - Bình Thuận

Kính thưa Quốc hội,

Kính thưa Thống đốc,

Tôi xin được chuyển đến Thống đốc 3 câu hỏi.

Câu hỏi thứ nhất liên quan đến vấn đề nợ xấu. Tôi nhận thấy từ sáng đến giờ, Thống đốc đã trả lời rất rõ ràng, phân tích rất cụ thể tình hình và đề ra rất nhiều biện pháp xử lý nợ xấu. Vậy mà khi thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội năm 2012, thống đốc có nói với tư cách là Thống đốc ngân hàng Nhà nước, tôi không hứa gì về việc xử lý nợ xấu. Xin hỏi Thống đốc không hứa là vì e ngại điều gì chăng hay những vấn đề ta đang xử lý đều không chắc chắn hoặc những giải pháp đặt ra tính khả thi không cao, độ tin cậy không lớn, đề nghị Thống đốc cho biết ý kiến của mình về vấn đề này.

Câu hỏi thứ hai, có hay không có tình trạng nợ xấu của ngân hàng do có tiêu cực của cán bộ ngân hàng trong đánh giá giá trị thực tế của tài sản thế chấp khi làm thủ tục cho vay vốn, nếu có thì xử lý trách nhiệm về vấn đề này như thế nào.

Câu hỏi thứ ba, dư luận đang đồn rằng trong hệ thống ngân hàng có lợi ích nhóm, Thống đốc cũng vừa cho biết có lợi ích nhóm trong nhóm khách hàng trên lĩnh vực bất động sản với ngân hàng, vậy thì với các lĩnh vực khác thì sao. Xin Thống đốc cho một lời khẳng định có hay không có lợi ích nhóm trong hệ Thống ngân hàng, đến nay Thống đốc đã xử lý bao nhiêu trường hợp vi phạm về vấn đề này. Xin cảm ơn thống đốc.

Lê Thị Nguyệt - Vĩnh Phúc

Kính thưa Quốc hội,

Kính thưa Thống đốc, tôi xin có 2 câu hỏi dành cho Thống đốc.

Thứ nhất, đồng tiền lưu thông vào ngân hàng có hệ số tiền tệ so với tiền cơ bản, tôi muốn nói tới tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà ngân hàng nhà nước có chức năng kiểm soát, điều đó đảm bảo sự điều tiết của chính sách kinh tế vĩ mô. Vậy, theo Thống đốc vừa qua ngân hàng nhà nước đã làm gì để thực hiện hướng này, vừa đóng góp phát triển kinh tế - xã hội để đảm bảo tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội khác.

Thứ hai, cử tri phản ảnh tình trạng tín dụng đen hiện nay vẫn tràn lan ngoài thị trường, tác động lũng đoạn đến lĩnh vực tiền tệ, lượng tiền và vàng ở ngoài nhiều, vay thì thuận tiện hơn hay nói cách khác thanh khoản dễ hơn là ngân hàng. Vậy, trách nhiệm của Thống đốc trong việc quản lý nhà nước về vấn đề này như thế nào? tôi xin hết ý kiến, xin cảm ơn Quốc hội, cảm ơn Thống đốc.

Trần Khắc Tâm - Sóc Trăng

Kính thưa Quốc hội.

Kính thưa Thống đốc.

Tình hình nuôi tôm ở Sóc Trăng nói riêng và cả đồng bằng Sông Cửu Long nói chung đang tình trạng ngàn cân treo sợi tóc. Vụ tôm 2011 - 2012 tại tỉnh Sóc Trăng thiệt hại trên 4000 tỷ đồng do tôm bị bệnh lạ và hơn 80% người nuôi tôm đang bị lao đao, số ao bị treo rất nhiều. Sóc Trăng cũng đã xuất ngân sách hỗ trợ nông dân nuôi tôm bị thiệt hại nhưng nông dân nuôi tôm vẫn còn rất khổ, cầu mong phao cứu sinh từ Chính phủ. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ra tay nhưng việc chỉ đạo thực hiện còn chưa thống nhất. Cụ thể, tại Công văn số 5294 ngày 20/8/2012 hướng dẫn thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 1149 ngày 8/8/2012 về chính sách đối với chăn nuôi và thủy sản, Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo 5 ngân hàng thương mại cho vay đối với khách hàng vay là các hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển sản xuất, chăn nuôi, giết mổ để cấp đông, chế biến thịt lợn, thịt gia cầm, nuôi cá tra, chế biến cá tra xuất khẩu. Như vậy, con tôm sú không nằm trong diện này, đây là một bất lợi và thiệt thòi nặng nề cho người nuôi tôm. Bởi người nuôi cá tra bị thua lỗ ít nhiều có bán được cá, trong khi đó hàng chục ngàn người nuôi tôm đang bị thiệt hại bởi bệnh lạ tôm sú chết hàng loạt. Vậy, xin đặt câu hỏi với Thống đốc việc chỉ đạo như vậy có nhất quán không và vì sao chỉ có đối tượng cá tra được cho vay ưu đãi? tới đây Ngân hàng Nhà nước có chính sách hỗ trợ con tôm như đối với cá tra theo Công văn 1149 ban hành tháng 8-2012 của Thủ tướng Chính phủ hay không. Xin Thống đốc trả lời cụ thể vấn đề này vì cử tri là nông dân nuôi tôm đang quan tâm theo dõi Thống đốc trả lời trực tiếp tên truyền hình.

Một vấn đề nữa là nợ xấu. Xin đặt câu hỏi với Thống đốc: Nợ xấu cụ thể của từng ngân hàng thương mại lớn là bao nhiêu và nợ xấu thuộc lĩnh vực nào, tỷ lệ nợ xấu trong nhóm đối tượng là nông dân nuôi tôm vay và nông dân sản xuất nông nghiệp vay hiện nay so với đối tượng vay khác ra sao và bao nhiêu. Nếu Thống đốc không làm sáng tỏ câu hỏi này thì rất nhập nhằng vì tỷ lệ nợ xấu trong thủy sản, nông nghiệp không cao so với lĩnh vực khác. Tôi đề nghị Thống đốc chỉ đạo phân loại nợ xấu vì chỉ như vậy, chúng ta mới biết lĩnh vực nào cần xử lý khắc phục, lĩnh vực nào cần tiếp tục đầu tư. Không vì lý do nợ xấu của một lĩnh vực mà phải bắt nhiều lĩnh vực khác, như nuôi tôm, thủy sản, nông nghiệp phải gánh chịu.

Xin trân trọng cám ơn Thống đốc.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Tôi lần lượt trả lời các câu hỏi của các vị đại biểu Quốc hội.

Thứ nhất, về ý kiến của Đại biểu Trần Du Lịch là tôi không thấy vấn đề nợ xấu là nghiêm trọng và có vẻ là hồng hào quá, mà trên thực tế thì vấn đề này đang hết sức bức xúc, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, xã hội không những trong giai đoạn hiện nay mà còn trong giai đoạn sắp tới. Từ đó, Đại biểu cho rằng các biện pháp về siết tín dụng trong thời gian qua là không đúng, dẫn tới doanh nghiệp điêu đứng... Tại sao NHNN lại hút tiền về trong khi nền kinh tế đang thiếu tiền, phải chăng là gây khó khăn thêm cho doanh nghiệp. Tôi xin trả lời Đại biểu như sau:

Tôi với đại biểu Trần Du Lịch cùng sinh hoạt trong Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia. Đúng bằng giờ này năm trước, khi họp Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, Tôi là người đầu tiên đặt vấn đề về nợ xấu và ảnh hưởng của nợ xấu trong năm 2012 và những năm tiếp theo. Tôi cũng là người đầu tiên nói rằng tảng băng nợ xấu làm đông cứng nền kinh tế như thế nào, cách gì để làm cho tảng băng này chảy và nếu nó chảy có dẫn đến ngập lụt hay không. Do vậy, vấn đề nợ xấu là vấn đề chúng ta đã thấy từ trước và sự nguy hại của nó trong thời gian tiếp theo sẽ rất lớn.

Nợ xấu trong thời điểm hiện tại có thể là con số chưa phải là ghê gớm nhưng diễn biến nợ xấu là vấn đề rất nguy hiểm vì nợ xấu có thể tăng lên hàng ngày, hàng giờ và tiếp tục tăng nếu chúng ta làm nó dừng lại. Theo đánh giá của NHNN, hiện nay nợ xấu từ 8,6 - 8,82%, nhưng như Tôi đã báo cáo, tốc độ tăng nợ xấu của nước ta rất cao qua các năm, nếu không cơ cấu lại nợ theo Quyết định 780 của NHNN, thì 252.000 tỷ được cơ cấu lại này bây giờ đã trở thành nợ xấu.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Tôi thấy nhận định về nợ xấu giữa đồng chí Thống đốc và đồng chí Trần Du Lịch không khác nhau, hai người đều cho là nghiêm trọng. Sự khác nhau ở đây là đồng chí Trần Du Lịch chưa tin tưởng các giải pháp mà đồng chí đưa ra. Đồng chí nói thêm biện pháp gì để anh Lịch tin tưởng và chúng ta thấy có kết quả.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Như Tôi đã báo cáo, trong các giải pháp xử lý nợ xấu có giải pháp ngành Ngân hàng chủ động làm được và nằm trong tầm kiểm soát của chúng tôi, có những giải pháp chúng tôi phải chủ động phối hợp với các bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương. Với những giải pháp cần sự phối hợp của nhiều bên thì chúng tôi chỉ là một bên phối hợp. Với những biện pháp thuộc thẩm quyền, trách nhiệm quyết định của chúng tôi thì tôi khẳng định là chúng tôi đang và sẽ triển khai rất quyết liệt, như: chúng tôi đang tích cực cơ cấu lại nợ cho các doanh nghiệp; yêu cầu các tổ chức tín dụng phải trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro đầy đủ, đúng qui định trong năm nay để xử lý nợ xấu và không được chia lợi nhuận nếu chưa trích lập rủi ro đầy đủ. Nếu dùng lợi nhuận trích lập vẫn không đủ thì phải dùng vốn tự có và các nguồn vốn dự phòng khác của mình để xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, như tôi đã trình bày, để xử lý được nợ xấu cần có quyết tâm chung của tất cả các bộ, ban, ngành trong hệ thống chính trị của chúng ta.

Về vấn đề NHNN hút tiền về. Như chúng tôi đã trình bày, TCTD hiện nay dư tiền, mặc dù dư không nhiều nhưng chưa đầu tư ra được, số tiền dư vẫn phải trả lãi tiền gửi của dân. Do vậy, nếu không có biện pháp xử lý số tiền dư này thì các TCTD sẽ chịu áp lực về sử dụng tiền và quay sang đầu tư vào hoạt động khác, như kinh doanh ngoại tệ, từ đó làm cho thị trường ngoại tệ lại bất ổn. Như tôi đã báo cáo, cái đúng đắn trong chính sách tiền tệ của NHNN là làm sao lượng tiền dư thừa trên thị trường liên ngân hàng được gửi vào NHNN ở mức hợp lý nhất và giữ lãi suất trên thị trường liên ngân hàng ổn định. Từ đầu năm 2012, lãi suất trên thị trường ngân hàng rất ổn định, phù hợp với diễn biến lạm phát và kỳ vọng lạm phát. Đây là kỹ năng, nghệ thuật điều hành của Ngân hàng Trung ương. Việc hút tiền về của NHNN cũng là cực chẳng đã vì khi phát hành tín phiếu NHNN để hút tiền về, NHNN phải mất tiền để mua lại khoản tiền đó.

Về vấn đề vàng, Nghị định 24 để ngỏ rất nhiều nội dung, trong đó có nội dung Ngân hàng Nhà nước trực tiếp mua bán vàng và huy động vàng. Nhưng xét tình hình kinh tế vĩ mô của đất nước hiện nay, giải pháp huy động vàng không phát huy được hiệu quả vì giá vàng thế giới đang biến động rất mạnh do những bất ổn của kinh tế thế giới. Nếu có bất kỳ hoạt động nào về huy động dưới góc độ tiền gửi bằng vàng chỉ làm tăng thêm tính vàng hóa của nền kinh tế mà thôi. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay chúng ta áp dụng phương thức quan hệ mua bán. Ngân hàng nhà nước sẽ đóng vai trò là người mua bán cuối cùng trên thị trường này để vừa là người kiến tạo nhưng cũng vừa là người cầm nhịp đảm bảo sự ổn định của thị trường vàng.

Về vấn đề trước đây không quản lý thị trường vàng, bây giờ lại quản lý, tôi xin báo cáo như sau: Các quy định của pháp luật về quản lý thị trường vàng trước đây có quá nhiều bất cập. Thực trạng này đã được tập thể Chính phủ đánh giá bằng văn bản, không phải đánh giá của Thống đốc ngân hàng Nhà nước, vì Nghị định 174 do Chính phủ ban hành. Để khắc phục bất cập này, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, chúng tôi đã bắt tay vào xây dựng Nghị định 24 từ năm 2009, ngay sau khi quyết định chấm dứt hoạt động của các sàn vàng. Qua nhiều trao đổi, tranh luận, đấu tranh, đến cuối 2011, chúng ta mới ban hành được văn bản này và đến nay đã đạt được các kết quả bước đầu như đã nêu.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Đề nghị đồng chí lưu ý câu của đại biểu Trần Du Lịch: Siết tín dụng như thế có làm điêu đứng doanh nghiệp không? Giải quyết như thế nào cho hợp lý?

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Chúng ta thấy mọi chính sách, đặc biệt là chính sách vĩ mô thì không thể đáp ứng được mọi yêu cầu. Như tôi đã có dịp báo cáo với Quốc hội về bộ 3 bất khả thi tăng trưởng - lạm phát - tỷ giá. Trong khi, hiện nay chúng ta vừa phải đảm bảo kiềm chế được lạm phát, vừa phải đảm bảo tăng trưởng. Đó là điều khó của chính sách.

Cuối năm 2010 chuyển sang năm 2011, Chính phủ đã có Nghị quyết số 11 và Bộ chính trị cũng đã có Kết luận số 02 về việc triển khai các biện pháp nhằm nhanh chóng kiềm chế lạm phát. Chúng ta thấy rất rõ, khi áp dụng các biện pháp này, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn. Đây là cái giá phải trả để lập lại ổn định kinh tế vĩ mô. Từ tháng 9 năm 2011, tất cả các chính sách của NHNN đã dần nới lỏng, lãi suất đã giảm, nhiều đối tượng không khuyến khích cho vay trước đây đã được loại bỏ dần, đến nay chỉ còn lại hai đối tượng là khu công nghiệp (vì khu công nghiệp hiện nay đã rất nhiều) và chứng khoán.

Tôi xin trả lời ý kiến của đại biểu Đỗ Ngọc Niễn về việc chúng tôi không hứa gì về giảm tỷ lệ nợ xấu, có thể tính khả thi của các biện pháp không cao. Với trách nhiệm là Thống đốc, tôi có thể chủ động triển khai những biện pháp trong lĩnh vực mình phụ trách và chủ động được trong vấn đề phối hợp với các bộ, ban ngành. Nhưng kết quả của những biện pháp chung phải phối hợp thì còn phụ thuộc vào ý chí chung của tập thể. Tôi không thể hứa về giảm tỷ lệ nợ xấu vì tôi thấy rằng một mình ngân hàng không thể làm được việc này, mà cần đến sự thống nhất chung của toàn hệ thống để giải quyết vấn đề nợ xấu.

Về tiêu cực của cán bộ ngân hàng trong việc đánh giá tài sản. Tôi khẳng định là có hiện tượng này. Trong đợt thanh tra vừa rồi, cũng như trong những đợt thanh tra trước đây, nhất là trong đợt thanh tra toàn diện vừa rồi, có một số tổ chức tín dụng, đặc biệt là các tổ chức tín dụng có một nhóm cổ đông thao túng thì bằng các công ty sân sau, họ đánh giá rất cao những tài sản bảo đảm của công ty sân sau này và chính họ phê duyệt để ngân hàng cho vay các công ty sân sau đó. Do vậy, có việc đánh giá tài sản cao hơn so với giá trị thật. Về biện pháp xử lý, như tôi đã trình bày là: Xác định rõ sai phạm và đề nghị các bên sai phạm khắc phục bằng các biện pháp kinh tế để bù đắp tổn thất trước khi chuyển sang cơ quan pháp luật nếu các bên để xảy ra thất thoát.

Về có lợi ích nhóm trong lĩnh vực ngân hàng hay không và xử lý thế nào? Như đã báo cáo từ sáng, chúng ta khẳng định là có lợi ích nhóm trong một số lĩnh vực nhất định của hoạt động ngân hàng, như việc một ngân hàng phụ thuộc vào một vài cổ đông và các cổ đông này quyết định hết mọi hoạt động của ngân hàng. Vì vậy hiện tượng vi phạm pháp luật để phục vụ lợi ích của mình và nhóm khách hành của mình là lợi ích nhóm. Về biện pháp xử lý, nếu ở mức độ nghiêm trọng thì phải tái cấu trúc lại ngân hàng, nếu có những biểu hiện vi phạm hình sự thì phải chuyển sang cho cơ quan hình sự xử lý. Về mặt kinh tế, chúng tôi đề nghị các bên sai phạm phải có các biện pháp khôi phục lại sự lành mạnh về tài chính, đảm bảo an toàn tiền gửi của dân và tiền của Nhà nước.

Đại biểu Lê Thị Nguyệt hỏi về tỷ lệ dự trữ bắt buộc và sử dụng công cụ này như thế nào trong thời gian vừa qua. Tôi xin báo cáo: dự trữ bắt buộc là một công cụ rất quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, nhưng trong rất nhiều năm vừa qua, công cụ này đã mất tác dụng. Bởi lẽ, trước đây tăng trưởng tín dụng nóng quá, nhưng dự trữ bắt buộc ở tỷ lệ thấp quá. Gần đây, lạm phát cao, đáng ra phải hút bớt tiền về thông qua tăng dự trữ bắt buộc để công cụ dự trữ bắt buộc phát huy tác dụng, nhưng vì chúng ta vừa lạm phát cao, vừa thiếu thanh khoản nên nếu chúng tôi tăng dự trữ bắt buộc để góp phần kiềm chế lạm phát nhanh hơn thì sẽ gây khó khăn rất lớn cho nền kinh tế về thanh khoản. Vì vậy, để công cụ này phát huy tác dụng trong thời gian tới thì chúng ta cần khôi phục lại thanh khoản của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Về tín dụng đen quá thuận lợi, thậm chí còn thuận lợi hơn thị trường liên ngân hàng. Như tôi đã trình bày, các tổ chức tín dụng hiện nay rất quan tâm đến chất lượng tín dụng nên các dự án, phương án vay vốn được xem xét hết sức thận trọng. Do vậy, có nhiều bên vay không đáp ứng được yêu cầu nên không vay được, trên cơ sở đó thị trường tín dụng đen phát triển. Về phía ngân hàng chúng tôi đang phối hợp chặt chẽ với các lực lượng quản lý thị trường, công an để phát hiện, xử lý các trường hợp này. Trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã phối hợp với công an phát hiện một vụ khá lớn về lĩnh vực này, chắc là các cơ quan bảo vệ pháp luật sẽ xử lý trong thời gian sắp tới.

Đại biểu Trần Khắc Tâm đề nghị Ngân hàng Nhà nước đưa thêm đối tượng nuôi tôm vào diện hỗ trợ theo Quyết định 1149. Chúng tôi cũng hết sức xúc động và chia sẻ với đồng bào nuôi tôm, nhưng chỉ có đối tượng cá tra và chăn nuôi gia cầm, lợn thuộc phạm vi hỗ trợ của Quyết định 1149, không có đối tượng nuôi tôm. Tiếp thu ý kiến của Đại biểu, chúng tôi sẽ nhanh chóng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét việc bổ sung con tôm vào đối tượng hỗ trợ của Quyết định này.

Về nợ xấu của thủy sản. Như tôi đã trình bày sáng nay, nông nghiệp và nông thôn là một mặt trận cứu cánh cho chúng ta trong những năm vừa qua và năm nay. Đến nay dư nợ trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn có chất lượng rất tốt, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống là 4,49%, nhưng tỷ lệ nợ xấu của lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn thì thấp hơn rất nhiều. Do vậy, chất lượng trong cho vay nông nghiệp và nông thôn rất tốt.

Trong 2 năm vừa qua, chúng tôi đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại chú trọng phát triển hoạt động của mình trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Do vậy, tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đã tăng lên gấp đôi. Hiện nay, mặc dù đang tái cấu trúc lại hệ thống các ngân hàng thương mại, nhưng chúng tôi cũng chỉ đạo các ngân hàng thương mại lành mạnh tiếp tục mở chi nhánh ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn để dẫn vốn về các vùng này. Chúng tôi cũng có chủ trương đề nghị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn phải tăng được tỷ trọng cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn lên 80%. Đến nay Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đưa tỷ trọng này lên 75%. Chúng tôi sẽ tiếp tục chỉ đạo Ngân hàng Nông nghiệp và các ngân hàng thương mại khác tập trung vốn một cách thỏa đáng cho việc phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Xin cám ơn Thống đốc. Đại biểu Trần Du Lịch đang muốn hỏi lại, xin với đại biểu là trao đổi với Thống đốc sau. Đại biểu hỏi 1 câu thôi.

Trần Du Lịch - TP Hồ Chí Minh

Kế hoạch tăng trưởng dư nợ tín dụng đầu năm thông qua là 15-17%, tới giữa năm ta rút xuống 10%, 12%. Tôi dự kiến kỳ họp trước như vậy mỗi tháng bơm 50.000 tỷ. Bây giờ trượt vài % Thống đốc vẫn nói là hợp lý tôi không hiểu được chúng ta điều hành thế nào.

Vấn đề thứ hai là vàng, Thống đốc hứa thị trường biến động chênh lệch giữa giá vàng trong nước và ngoài nước 400.000đ thì Ngân hàng nhà nước điều tiết. Bây giờ không làm được lại bảo rằng không cần liên thông với thị trường nước ngoài thì Thống đốc nghĩ thế nào.

Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng không phải là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô mà là chỉ tiêu điều hành. Để đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng 6 - 6,5% được Quốc hội thông qua trong những năm trước đây thì tăng trưởng tín dụng vào khoảng 15%– 17%. Năm ngoái, tăng trưởng tín dụng là 14% nhưng chúng ta không mua được trái phiếu Chính phủ, toàn bộ tiền dồn vào tăng trưởng tín dụng. Năm nay do đặc thù của nền kinh tế, một phần tiền đã được đầu tư gián tiếp qua trái phiếu Chính phủ. Như Tôi đã báo cáo, nếu tính cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp thì năm nay hệ thống ngân hàng đã đầu tư vào nền kinh tế xấp xỉ 10%. Như vậy, chúng ta cũng đảm bảo được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức 5 - 5,2% trong năm nay. Với trình độ phát triển kinh tế của nước ta thì mức đầu tư đó là hợp lý.

Về vấn đề chênh lệch giá vàng. Tôi cho rằng từ sáng đến giờ tôi đã giải thích quá nhiều và năng lực giải thích của tôi cũng có hạn nên Đại biểu chưa hiểu hết được. Tôi rất mong có vấn đề gì mời Đại biểu tiếp tục trao đổi thêm để chúng ta làm rõ và hiểu nhau hơn.

Thời gian qua, chúng tôi thấy cử tri và Đại biểu cả nước rất quan tâm đến hoạt động của hệ thống ngân hàng, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp với chúng tôi. Trong đó, có nhiều ý kiến động viên, khích lệ, chia sẻ làm động lực để chúng tôi cố gắng vươn lên, khắc phục khó khăn; cũng có rất nhiều ý kiến phê bình, chỉ trích để chúng tôi kịp thời xử lý và rút kinh nghiệm. Thay mặt hơn 200.000 cán bộ của toàn hệ thống ngân hàng chân thành cảm ơn cử tri và đại biểu Quốc hội trong toàn quốc. Trong thời gian tới, khó khăn của đất nước vẫn còn nhiều, chúng tôi rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ, chia sẻ cũng như phê phán của Quốc hội, của cử tri cả nước để chúng tôi liên tục hoàn thiện mình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tôi xin chân thành cảm ơn Quốc hội.

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Thưa Quốc hội,

Có thể nói chúng ta đã dành sự ưu ái cho vấn đề lớn của quốc gia đó là điều hành chính sách tiền tệ cùng với chính sách vàng. Đây có thể nói là mạch máu của nền kinh tế, cũng rất tế nhị, rất nhạy cảm, rất khó khăn, Quốc hội rất quan tâm nên lần này mời Thống đốc trả lời chất vấn cũng là dịp để tiến hành thảo luận thêm để chúng ta có những quyết đáp chính xác trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ nói chung, kinh tế vĩ mô nói chung và điều hành thị trường vàng nói riêng.

Cho đến nay đã có 17 đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi và Thống đốc đã trực tiếp trả lời, tôi thấy câu hỏi rất phong phú, rất sâu sắc và cũng vừa với thời gian. Thống đốc trả lời cũng rất chi tiết, rất đầy đủ và chúng ta còn tranh luận với nhau nhiều vấn đề nữa. Rất tiếc là thời gian có hạn theo chương trình của Quốc hội cho phép nên chúng ta phải chuyển chương trình. Còn lại 23 đại biểu nữa chưa đặt được câu hỏi, chắc những câu hỏi này cũng sẽ rất phong phú, xin các đại biểu gửi tới Thống đốc. Đề nghị Thống đốc trả lời các đại biểu và gửi cho Quốc hội phần trả lời. Xin cảm ơn Thống đốc. Tôi xin dành thời gian ngắn còn lại để báo cáo với Quốc hội một số điểm rút ra từ chương trình chất vấn Thống đốc.

Chúng ta nhất trí với nhau việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là một việc hết sức quan trọng, ngân hàng mạnh thì doanh nghiệp mạnh, nền kinh tế ổn, cho nên mục tiêu của chúng ta là tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có tái cơ cấu thị trường tài chính, tiền tệ, đặc biệt là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Tái cơ cấu ngân hàng lần này chúng ta đặt ra vấn đề giải quyết một cách đồng bộ, cả nợ xấu, cả tổ chức mô hình hoạt động và giải quyết cho được những ngân hàng yếu kém. Đồng thời, phải vừa giải quyết chính sách về tín dụng, cả huy động, cả cho vay, cả lãi suất làm sao cho hợp lý và phải bảo đảm thanh khoản cho nền tài chính, tiền tệ, nền kinh tế. Vừa cho vay ra nhưng không làm cho lạm phát tăng cao, phải giữ được lạm phát ở mức cho phép. Phấn đấu làm sao các ngân hàng được tổ chức lại trong năm 2013, năm 2014 và sang 2015 có một hệ thống ngân hàng lành mạnh. Mục tiêu tổng quát là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng một cách đầy đủ, tổng thể, không coi nặng mặt này, coi nhẹ mặt kia. Chỉ việc cho vay ra và lạm phát thôi, hai việc này không ổn, không khéo thì kinh tế sẽ bất ổn. Đẩy tiền ra nhiều thì lạm phát, rút tiền về nhiều thì kinh tế đình trệ. Cho nên không để sụp đổ bất kể khâu nào, đơn vị nào gây ra sốc trong chính sách tiền tệ của chúng ta. Đó là một điểm.

Điểm thứ hai là nợ xấu. Quốc hội và Thống đốc đánh giá nợ xấu là nghiêm trọng và ở các lĩnh vực, đặc biệt là bất động sản bởi vì bất động sản không phải chỉ ở trên sàn mà Bộ trưởng Bộ Xây dựng thống kê được, mà nó còn liên quan tới đất đai, tới người vay để mua nhà, tới người xây dựng vay để đầu tư và những bất động sản khác như giao thông, thủy lợi liên quan tới đầu tư của ngân sách… Cho nên ách tắc bất động sản làm cho nợ xấu khó giải quyết và sẽ lớn lên. Không chỉ trong bất động sản, trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và các loại hình kinh tế khác đều có sự tồn đọng. Đi theo nó là tồn kho lớn chưa giải quyết được. Cho nên vừa phải giải quyết nợ xấu, vừa phải giải quyết tồn kho.

Tôi thấy Quốc hội và Thống đốc đều nhất trí nợ xấu là nghiêm trọng, chúng ta phải từng bước giải quyết và giải quyết thành công. Năm 2013 phải tạo cho được chuyển biến. Thống đốc sẽ không đơn độc vì còn có Quốc hội, Chính phủ, các ngành. Năm 2013, Quốc hội giao cho Thống đốc là phải tạo ra được một chuyển biến tích cực hơn trong giải quyết nợ xấu, phân loại nợ xấu và tìm biện pháp cụ thể đối với từng loại nợ xấu khác nhau. Các loại nợ xấu khác nhau thì biện pháp khác nhau, biện pháp phối hợp cũng khác nhau mới giải quyết được.

Thứ hai là doanh nghiệp giải quyết tức là tổ chức tín dụng giải quyết, doanh nghiệp đi vay giải quyết. Có chủ trương chính sách của Quốc hội và Chính phủ, Ngân hàng nhà nước tích cực giải quyết và phải tạo cho được sự chuyển biến để giảm nợ xấu trong năm 2013, phấn đấu đến năm 2015 giảm xuống 3% như Thống đốc đã cam kết.

Thứ ba là hoạt động huy động cho vay hỗ trợ doanh nghiệp để làm cho nền kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp không lâm vào tình trạng khó khăn, bế tắc, không phát triển được, mất việc làm, không bảo đảm được an sinh xã hội. Nên phải gắn chặt huy động, cho vay và lãi suất để giải quyết. Phải ưu tiền số 1 cho sản phẩm nông nghiệp, như con gà, con lợn, con trâu, con bò, con tôm, con cá, sản phẩm trồng lúa, cao su, cà phê… Ưu tiên thứ 2 là Sản phẩm công nghiệp phụ trợ và một số ngành công nghiệp xuất khẩu và ưu tiên một số các lĩnh vực quan trọng khác. Chúng ta phải lựa chọn đầu tư để cho lạm phát không tăng. Huy động tăng 12% mà dư nợ tín dụng tăng 2 - 3% thì chưa cân đối, cho nên cố gắng phải giải quyết vấn đề này.

Điểm thứ tư là phải đảm bảo thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, thanh khoản giữa các tổ chức tín dụng và điều hành lãi suất phù hợp với chỉ tiêu lạm phát mà Quốc hội vừa thông qua, Chính phủ đã đề ra. Sang năm chúng ta tính toán lạm phát cỡ 8%, điều hành lãi suất phù hợp với mức lạm phát đó có bước đi thích hợp để bảo đảm cho được thanh khoản, không chỉ thanh khoản giữa người đi vay và người cho vay mà thanh khoản trong toàn bộ nền kinh tế mà vẫn giữ được lạm phát. Đấy vừa là nghề, vừa là tài, vừa là trách nhiệm của Thống đốc ngân hàng Nhà nước trong điều hành lạm phát và tín dụng.

Thứ năm là về thị trường vàng. Trước đây, khi hội nhập ta mở ra quá rộng và quản lý lỏng lẻo thì bây giờ Quốc hội, Chính phủ chủ trương quản lý thị trường vàng chặt chẽ hơn. Vàng không phải là loại hàng hóa bình thường mà là loại hàng hóa đặc biệt và chỉ dùng để cất trữ, nếu nhà nước cất trữ thì nó như ngoại tệ, gọi là ngoại hối, cá nhân tích trữ thì là của cá nhân và vàng làm trang sức thì đúng là hàng hóa. Nhưng tuyệt nhiên không cho phép dùng vàng để làm phương tiện thanh toán mua bán, như mua nhà, mua xe trả bằng vàng và đô la. Tư tưởng của chúng ta theo hướng đó. Nghị định của Chính phủ mới ban hành chúng ta cứ thế mà làm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Dù hội nhập quốc tế, nhưng không phải cái gì chúng ta cũng cho liên thông, hàng xuất nhập khẩu của chúng ta bây giờ cũng chưa liên thông hết, khi nào tháo hết thuế thì chúng ta bàn tới biện pháp kỹ thuật. Nhưng sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế để quá lớn thì cũng không được Chúng ta quản lý như thế nào để đảm bảo quyền xuất, quyền nhập, quyền in, quyền đúc là quyền của nhà nước và đảm bảo lợi ích của người dân, giá trị sử dụng của vàng để làm nữ trang, buôn bán nữ trang như một loại hàng hóa. Cho nên tôi đề nghị Thống đốc phải tăng cường các biện pháp cần thiết và phát huy những kết quả đã đạt được trong thời gian qua để cho thị trường vàng với nghĩa là hàng hóa phát triển, còn vàng với nghĩa là tiền để thanh toán thì dứt khoát phải cấm. Với tinh thần đó tôi nghĩ hiện nay còn nhiều trục trặc thì chúng ta rút kinh nghiệm để làm cho tốt hơn.

Vấn đề thứ sáu, Quốc hội và Thống đốc cũng đánh giá có nhiều tiêu cực trong lĩnh vực ngân hàng liên quan đến lợi ích nhóm, nâng giá tài sản thế chấp, thâu tóm ngân hàng để làm của riêng, đầu tư bất động sản... Yêu cầu Thống đốc tăng cường, kiểm tra kiểm soát, phối hợp với các cơ quan chức năng để làm tốt công tác quản lý thị trường, ngăn chặn các hiện tượng này và kịp thời phát hiện, xử lý kinh tế, xử lý hình sự cho nghiêm.

Đấy là sáu vấn đề rút ra qua thảo luận, Quốc hội giao nhiệm vụ cho Thống đốc trong thời gian tới. Có thể nói thị trường tiền tệ, thị trường vàng trong gần 1 năm qua có những chuyển biến tích cực, tạo sự ổn định hơn, phát triển tốt hơn cho nền kinh tế và giữ được lạm phát. Thống đốc tiếp tục thực hiện tốt hơn, phát huy tốt hơn những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại để làm tốt hơn nhiệm vụ của mình.

Xin Quốc hội cho dừng phiên chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại đây. Xin cảm ơn Quốc hội, cảm ơn đồng chí Thống đốc.


  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
CÁC TIN KHÁC
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Lã Thanh Tân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hoàng Bảo Trân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Quân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Huân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Hiếu gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
13/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Bùi Xuân Thống gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
10/01/2026
Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Hưng Yên gửi tới sau Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
20/01/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 170
  • 1
  • 2
  • 3
  • 17
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Thông tin về hoạt động Khoa học và Công nghệ
    • Kết quả các nhiệm vụ Khoa học và công nghệ
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Hành trình 75 năm Ngành Ngân hàng - vì một Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc
Hành trình 75 năm Ngành Ngân hàng - vì một Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready