PGS.,TS. Nguyễn Đình Tự
Lâu nay, chúng ta đã xác định công tác thông tin tuyên truyền có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà công nghệ thông tin phát triển, các phương tiện thông tin truyền thông không chỉ có báo viết, báo nói, báo hình mà còn có cả báo điện tử. Các báo viết, nói, hình đã và đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng đơn vị cũng như loại hình, nhưng báo điện tử thì tính lan truyền của nó không hề có giới hạn lại nhanh về tính thời gian, mạnh về tính tác động.
Đối với ngành tài chính, ngân hàng (đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng), do đặc thù của loại hình hoạt động này có tính nhạy cảm cao, nếu hoạt động tuyên truyền không thận trọng sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của công chúng, đặc biệt là của người gửi tiền và của nhà đầu tư. Những lĩnh vực dễ gây tâm lý nhất là: tỷ giá, chứng khoán, giá vàng, những sự kiện khác trong hoạt động ngân hàng ví dụ như những sai phạm về kinh tế và tín dụng…
Liên quan đến công tác tuyên truyền, ngày 19/12/1008, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Quyết định số 342/QĐ-NHNN” về kế hoạch hành động của NHNN Việt Nam để triển khai thực hiện các giải pháp tiền tệ tín dụng và ngân hàng tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 09/1/2009; Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/1008; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 và Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008, trong đó, có nội dung về “đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin trong hệ thống ngân hàng: Cung cấp đầy đủ, kịp thời nguồn thông tin về các chính sách cũng như kết quả thực hiện về tiền tệ tín dụng và ngân hàng cho công chúng, doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế để họ hiểu đúng về hoạt động ngân hàng, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng nước ta…”
Để triển khai tinh thần đó, ngày 04/8/2009, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1849/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế hoạt động của tổ chức nghiên cứu tác động chính sách để thực hiện nhiệm vụ theo dõi tình hình hoạt động ngân hàng, công luận về viết bài phản biện hoặc tuyên truyền, định hướng dư luận về điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và hoạt động chung của ngành Ngân hàng.
Cùng với những định hướng trên, NHNN thường xuyên chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền - báo chí, trong đó yêu cầu “các cơ quan báo chí trong Ngành phải có sự phối hợp, liên kết chặt chẽ với nhau để tăng cường hiệu quả tuyên truyền”.
Đề cập những vấn đề như trên là để xác định tầm quan trọng đối với công tác tuyên truyền của ngành Ngân hàng về các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, đặc biệt là trong thời kỳ chống lạm phát và thực hiện các biện pháp kích thích chống suy giảm kinh tế của Nhà nước (gọi tắt là kích cầu). Dưới đây xin được đề cập một số suy nghĩ về công tác tuyên truyền đối với các giải pháp tài chính, tiền tệ hậu suy giảm kinh tế ở Việt Nam.
Về vấn đề kích cầu, chống suy giảm kinh tế
Đến nay, về cơ bản, các nước đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, kể cả Việt Nam, và như vậy, việc đề cập đến nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là cần thiết, nhưng đó là để rút kinh nghiệm và từ đó, trong chỉ đạo quản lý hệ thống ngân hàng - tài chính cần phải tránh xa các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng.
Vấn đề kích cầu nhằm chống khủng hoảng và phục hồi kinh tế, hầu hết các nước đều thực hiện nhưng ở mức độ khác nhau, có nước chi ra hàng ngàn tỉ USD như Mỹ, có nước chỉ một vài chục tỉ USD và tổng số tiền kích cầu thường chiếm khoảng 4 - 6% GDP. Ở nước ta gói kích cầu chỉ dừng ở mức 8 tỉ USD, nhưng đã chiếm xấp xỉ 10% GDP. Tuy nhiên, chúng ta lại thu được kết quả khả quan. Sau khi có chủ trương kích cầu, chống suy giảm kinh tế theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ, các Bộ, ngành trong đó có ngành Ngân hàng đã nhanh chóng triển khai và từ cuối quý II/2009, nền kinh tế nước ta đã có dấu hiệu tăng trưởng và 9 tháng năm 2009 GDP đạt 4,6%. Nếu tiếp tục theo xu hướng này thì khả năng thực hiện chỉ tiêu GDP ở mức 5,2% là rõ ràng.
Việc triển khai các biện pháp kích cầu vừa qua, cho thấy đó là sự chỉ đạo kịp thời, đúng hướng và sự vận dụng sáng tạo của Chính phủ, phù hợp với đặc điểm kinh tế và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đối với nước ta. Đây cũng là bài học quý cho việc chỉ đạo điều hành của Chính phủ và việc triển khai có kết quả của các Bộ, ngành, trong đó có ngành Ngân hàng.
Cũng thông qua việc cho vay hỗ trợ lãi suất để chống suy giảm kinh tế (thực chất là việc giải cứu các doanh nghiệp và hộ sản xuất), cho thấy: ngành Ngân hàng đã triển khai khẩn trương, kịp thời, nghiêm túc, đến nay chưa phát hiện ra những vi phạm nghiêm trọng. Vừa qua, thông qua công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại hội nghị, hội thảo có khá nhiều ý kiến bàn thảo về tác động của gói kích cầu. Có ý kiến cho rằng nếu không được kiểm soát tốt thì đó là nguyên nhân gây ra lạm phát. Ý kiến đó đúng. Đến nay, qua một số cuộc thanh tra, kiểm tra của NHNN (hiện vẫn đang tiếp tục) cũng như qua giám sát của các đoàn đại biểu Quốc hội thì chủ yếu là đánh giá tốt, chưa phát hiện sai phạm. Đương nhiên, khi nới lỏng chính sách tiền tệ (CSTT) thì phải có hậu quả nhưng tăng cường các biện pháp kiểm soát thì sẽ chủ động hạn chế hậu quả này.
Có một số ý kiến cho rằng, tiền kích cầu đã có một phần chảy vào bất động sản và chứng khoán, bởi vừa qua, hai thị trường này sôi động hơn, nhất là thị trường chứng khoán không những phục hồi mà còn tăng trưởng (đến cuối tháng 9, chỉ số Vn-index đã lên trên 580 điểm và hiện đã lên trên 600 điểm, Hn-index cũng lên trên 150 điểm và hiện đã lên trên 200 điểm). Ý kiến đó cũng có lý, nhưng không hoàn toàn như vậy bởi dư nợ vay ngân hàng của hai lĩnh vực này vẫn đang trong tầm khống chế của NHNN. Mặt khác, hai thị trường này còn chịu tác động của nhiều yếu tố quan trọng khác (nhất là đối với thị trường chứng khoán) như: yếu tố vĩ mô, các thông tin hỗ trợ, yếu tố tâm lý, sự tăng giảm của thị trường Mỹ và các nước khác… Tuy vậy, chúng ta cũng cần tăng cường quản lý và kiểm soát những lĩnh vực này vì đó cũng là nơi tiềm ẩn sự bất ổn.
Tuyên truyền về kích cầu trong thời kỳ hậu suy giảm kinh tế thông qua cho vay hỗ trợ lãi suất, có hai luồng ý kiến:
+ Luồng ý kiến thứ nhất là nên dừng không tiếp tục hỗ trợ lãi suất nữa vì họ cho rằng đó là việc làm không công bằng, giảm tính thị trường, gây ỉ lại cho doanh nghiệp, giảm tính cạnh tranh. Ý kiến này của một số doanh nghiệp, của nhiều nhà khoa học và cả một số tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam.
+ Luồng ý kiến thứ hai, trong đó có gồm một số nhà khoa học, nhà quản lý cho rằng nên có gói kích cầu thứ hai, nhưng phải đánh giá lại kết quả cụ thể của gói kích cầu thứ nhất, và kích cầu lần này nên tập trung cho trung, dài hạn, có trọng tâm, trọng điểm như doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp khó khăn, xây dựng cơ sở hạ tầng, nông nghiêp nông thôn.
Theo chúng tôi ý kiến thứ nhất là chính xác, còn ý kiến thứ hai cũng có những lý do cần được xem xét cụ thể vì hiện kinh tế thế giới và trong nước vẫn chưa phải phục hồi một cách vững chắc, nhưng theo chúng tôi, không nên tiếp tục cho vay hỗ trợ lãi suất qua ngân hàng. Nếu có gói kích cầu tiếp thì phải xem xét liều lượng để không tăng áp lực quá mức cho ngân sách, nới lỏng tín dụng một cách thận trọng và phải đi đôi với cơ cấu lại doanh nghiệp. Những doanh nghiệp yếu kém, không có khả năng phát triển thì nên mạnh dạn cho giải thể, sáp nhập hoặc xử lý bằng hình thức thích hợp chứ không nên hỗ trợ trực tiếp.
Về tuyên truyền CSTT thời kỳ hậu suy giảm kinh tế (có thể từ nay đến hết năm 2010 - nếu không có đột biến khác).
Trong thời gian qua, CSTT đã góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, chuyển từ CSTT thắt chặt sang nới lỏng có thận trọng. Tuy nhiên, thời kỳ này có hai vấn đề cần quan tâm, đó là:
Thứ nhất, kinh tế thế giới và trong nước sẽ phục hồi và tăng trưởng, theo đó các hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư cũng sẽ phục hồi và phát triển, tuy nhiên lạm phát sẽ xuất hiện nếu không được kiểm soát tốt (vấn đề này cả Hội nghị Thượng đỉnh G20 tháng 9/2009 vừa qua và cả IMF cùng cảnh báo). Mặt khác, sẽ và vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, trong đó một số vấn đề quan trọng liên quan đến điều hành CSTT như: hiệu quả đầu tư, chỉ số ICOR, giá cả thế giới (trong đó có sự tăng giảm của giá dầu mỏ, lương thực) và cả năng lực quản lý, giám sát các thị trường.
Đối với điều hành CSTT trong thời gian tới, chủ trương của NHNN là “tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả điều hành CSTT, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”. Việc điều hành CSTT theo hướng ổn định, đảm bảo cân đối yêu cầu về vốn, ngoại tệ, tăng cường kiểm soát tín dụng để thực hiện mục tiêu cụ thể về điều hành CSTT với tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng theo hai kịch bản mà Thống đốc NHNN đã trình bày ở cuộc hội thảo tại Lâm Đồng ngày 28/8/2009. Tuy nhiên, việc điều hành CSTT sẽ không hề đơn giản. Trước hết là lãi suất. Có những ý kiến cho rằng cần xem xét điều chỉnh lãi suất cơ bản vì lãi suất tiết kiệm của các ngân hàng thương mại (NHTM) hầu như đã tăng kịch trần. Tuy nhiên, theo chúng tôi, điều hành lãi suất như hiện nay là phù hợp với những diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế, phù hợp với chủ trương điều hành CSTT nới lỏng có kiểm soát của NHNN. Cũng có ý kiến cho rằng nên bỏ trần lãi suất theo quy định hiện hành mà trở về lãi suất thỏa thuận như trước đây. Có lẽ thời kỳ này chưa phù hợp mà đến khi nền kinh tế ổn định và phát triển, lạm phát được kiểm soát như trước năm 2008.
Thứ hai là vấn đề tỉ giá. Có những ý kiến cho rằng cần phải nới lỏng biên độ và điều hành nhằm thu hẹp hai tỉ giá (tỉ giá thị trường tự do và tỉ giá do NHNN công bố), thu hẹp chênh lệch lãi suất VND và USD, tăng cường các biện pháp chống đôla hóa ở Việt Nam… Đây là vấn đề khó và nhạy cảm cần được tuyên truyền một cách thận trọng, giảm tối đa các yếu tố tâm lý làm ảnh hưởng đến việc điều hành của các cơ quan chức năng. Tuyên truyền cho vấn đề này cần phải nghiên cứu quan điểm trong điều hành tỉ giá của NHNN là linh hoạt đảm bảo phục vụ tốt cho nền kinh tế, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và quan trọng là giữ vững ổn định tỷ giá trong điều kiện kinh tế hiện nay.
Về tuyên truyền đối với việc chống lạm phát thời kỳ hậu suy giảm kinh tế
Như trên đã đề cập, lạm phát sẽ quay trở lại trong trung hạn nếu không được kiểm soát tốt. Kiểm soát ở đây, trước hết là kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả và tác động của gói kích cầu thông qua cho vay hỗ trợ lãi suất để số vốn này không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích, dịch chuyển một phần sang chứng khoán và bất động sản gây ra tình trạng nợ xấu cho các NHTM (vì thời gian hỗ trợ lãi suất còn đến hết năm 2011 và cả năm 2012). Thứ nữa là phải tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng, nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NHTM, nâng cao năng lực thanh tra giám sát của NHNN...
Tuyên truyền cho vấn đề lạm phát hậu suy giảm kinh tế, cần chú ý một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, là phải thận trọng quyết định gói kích thích kinh tế tiếp theo (thường gọi là gói thứ hai), vì nếu có thì phải tính đến nội dung cụ thể, đến liều lượng đối tượng được hưởng và phải thực sự kích thích chứ không giải cứu. Vấn đề quan tâm ở đây là liều lượng vốn mà Chính phủ bỏ ra sẽ ảnh hưởng đến các chỉ số vĩ mô (hiện đang có chiều hướng tốt), không gây áp lực cho thâm hụt ngân sách (thực tế đã quá lớn), hạn chế tái lạm phát trong trung hạn (mà hiện nay đã và đang tiềm ẩn), không tiếp tục nới lỏng tín dụng vì đến cuối tháng 9, tổng dư nợ tín dụng đã kịch trần 30% theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN...
Thứ hai, đó là vai trò của các ngân hàng thương mại tác động đến lạm phát (cả trực tiếp là trong hoạt động tín dụng, cả gián tiếp là trong việc các ngân hàng thương mại tham gia thị trường ngoại hối...), do vậy, phải có các giải pháp giảm tác động từ phía những đơn vị này như: củng cố tổ chức, tăng cường năng lực tài chính, nâng cao hiệu quả các hoạt động, đặc biệt là hoạt động tín dụng, tăng cường công tác kiểm soát và kiểm toán nội bộ...
Thứ ba, các chính sách kinh tế vĩ mô phải đầy đủ và đồng bộ, đặc biệt là việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả, chất lượng đầu tư ở các lĩnh vực và không thể thiếu là vai trò điều hành của Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, ngành hữu quan.