Ổn định lãi suất, tỷ giá, củng cố an toàn hệ thống trong bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước có nhiều diễn biến khó lường được coi là một trong những thành công của Ngân hàng Việt Nam trong năm 2005.Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều thách thức lớn đặt ra cho hệ thống Ngân hàng trong quá trình hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới.
(Thời báo Ngân hàng lược ghi Lược ghi phát biểu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thuý và một số tham luận tại Hội nghị. Tuấn Anh - Minh Ngọc thực hiện).
Ngân hàng ngày càng hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước
Với tư cách là người chịu trách nhiệm chính về toàn bộ hoạt động của ngành và nhìn lại một năm hoạt động, tôi cho rằng ngành ngân hàng đã làm được một số việc. Năm 2005, chúng ta đã điều hành hợp lý lãi suất và tỷ giá, do đó kiểm soát được vĩ mô, giải quyết tương đối tốt bài toán giữa tăng trưởng và lạm phát, trong bối cảnh coi tăng trưởng như là mục tiêu ưu tiên số một. Về lãi suất, không thể không điều chỉnh. Vì để góp phần kiểm soát lạm phát thì phải thắt chặt tiền tệ, hệ quả là tăng lãi suất. Chúng ta đã nỗ lực thực hiện việc này bằng cách điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất trên nguyên tắc lãi suất huy động tăng nhiều hơn lãi suất cho vay. Tức là ngân hàng đã chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp cũng như nền kinh tế, đảm bảo các doanh nghiệp vẫn hoạt động được và nền kinh tế vẫn phát triển được. Lần đầu tiên Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,4%, cao nhất trong vòng nhiều năm gần đây và có ý nghĩa quyết định cho việc đạt được tốc độ tăng trưởng 7,5% trong vòng 5 năm (2001 - 2005) như mục tiêu của Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra.
Hệ thống ngân hàng cũng đã áp dụng chuẩn mực phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tiến bộ hơn, phù hợp hơn với chuẩn mực quốc tế, cho phép có sự nhìn nhận xác thực, nâng cao tính bền vững của hệ thống. Sự bùng nổ về dịch vụ ngân hàng với 5 triệu người dùng thẻ, đã góp phần tăng trưởng hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng cũng như hiệu quả của nền kinh tế, giảm dần mức sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế. Tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán lâu nay ở mức 24% - 25%, đã giảm xuống 21% trong năm 2005, mặc dù tổng khối lượng tiền mặt và tổng phương tiện thanh toán vẫn tiếp tục tăng lên.
Mức tăng trưởng tín dụng bình quân chung của hệ thống năm 2005 khoảng 19%. Ngân hàng không đơn thuần chỉ cung ứng vốn cho nền kinh tế, qua kênh tín dụng, mà còn thông qua thị trường vốn. Kết quả là hầu hết các ngân hàng đều kinh doanh có hiệu quả, lành mạnh về tài chính, tăng cường được dự phòng rủi ro, giảm bớt nợ xấu, tăng lợi nhuận. Ngân hàng trở thành một lĩnh vực hấp dẫn rất mạnh nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tuy nhiên cũng còn nhiều việc chúng ta chưa làm được. Biện pháp điều hành chính sách tiền tệ chưa đủ linh hoạt và mạnh dẫn đến chưa góp phần đủ mức giảm bớt mức độ tăng giá. Chúng ta cũng đang đứng trước áp lực lớn và chưa giải quyết tốt bài toán giữa nhu cầu vốn rất lớn, đặc biệt cho các dự án, các công trình trọng điểm cấp bách chung của cả nước với nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ dân cư. Bài toán sẽ là nếu vốn cho vay các công trình trọng điểm quốc gia mà nhiều, thì vốn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và hộ dân cư sẽ ít đi. Hơn thế nữa để có thể có đủ vốn cho vay phải nâng lãi suất huy động từ đó phải nâng lãi suất cho vay, rủi ro từ quá trình này là không nhỏ. Mục tiêu của năm 2006 là kiểm soát lạm phát thấp hơn năm 2005, dưới 8%, thì không có lý do gì tăng lãi suất. Ngành Ngân hàng phải quan tâm đến bài toán này trong thời gian tới, cân nhắc, lựa chọn dự án trọng điểm và đã cam kết là phải làm bằng được. Bên cạnh đó, phải nỗ lực huy động vốn và cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để có thể làm tốt nhiệm vụ năm 2006, về dài hạn, chúng ta phải triển khai cho tốt chiến lược phát triển Ngành và đề án triển khai chiến lược đó đến năm 2010 và năm 2020. Chiến lược đã thể hiện những thách thức của quá trình hội nhập. Nhiệm vụ của chúng ta là đề ra biện pháp xây dựng Ngân hàng Trung ương, xây dựng các ngân hàng thương mại phù hợp với yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới của hội nhập.
Trước mắt, ngoài các hoạt động quản trị kinh doanh bình thường, phát huy được tốt các kết quả đã đạt được của năm 2005, quan tâm khắc phục các mặt hạn chế như đã nêu, chúng ta ph?i làm tốt một số nhiệm vụ chính sau: Toàn ngành phải có ngay chương trình hoạt động thực hiện hai luật: Luật phòng chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí phù hợp với đặc thù hoạt động của mình.
...Ngân hàng Nhà nước phải tăng cường hơn nữa hiệu quả của việc xử lý các vấn đề trọng tâm, trong điều hành chính sách tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát ở mức dưới 8% như Quốc hội đề ra. Thực tế có nhiều thách thức: giá nguyên liệu quốc tế gia tăng, nguy cơ tái dịch cúm gia cầm. Thêm vào đó sự tăng giá của điện, than, xi măng kìm nén lâu nay cũng lại có thể tác động đến giá cả. Thứ hai là phải xây dựng và triển khai các biện pháp đổi mới hoạt động thanh tra giám sát mà trước mắt là phải sử dụng tốt các trợ giúp kỹ thuật, làm rõ hơn mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ, phương thức và chuẩn mực thanh tra giám sát phù hợp với thông lệ quốc tế. Triển khai ngay việc soạn thảo để xây dựng mới 2 luật ngân hàng phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế để trình Quốc hội thông qua vào năm 2008. Hoạt động tín dụng phải định hướng theo mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế của đất nước năm 2006 và giai đoạn 2006 - 2010, góp phần thiết thực vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (2006 -2010) và những nhiệm vụ mà nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X sẽ đề ra.
Những tiếng nói đồng sức, đồng lòng
* Phó trưởng ban Kinh tế Trung ương, Cao Sỹ Kiêm:
...Tác động tích cực nhất, rõ ràng nhất, trực tiếp nhất đối với hệ thống Ngân hàng Việt Nam là bắt đầu từ 2006 chúng ta có Nghị quyết của Bộ Chính trị về chiến lược phát triển ngân hàng giai đoạn 2006-2010. Có thể nói, chưa bao giờ hệ thống ngân hàng có một nghị quyết của Bộ Chính trị nói sâu, nói toàn diện, nói cụ thể về định hướng phát triển ngân hàng như vậy. Đây là một thuận lợi rất lớn cần tập trung khai thác và nếu thực hiện được thì đây là bước ngoặt lịch sử trong phát triển hệ thống ngân hàng...
Bên cạnh đó, có nhiều nhân tố mới tác động tới hoạt động ngân hàng đòi hỏi phải tập trung xử lý. Thứ nhất là năm vừa qua chúng ta đạt kết quả rất cao trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội. Nhưng việc nhiều công trình lớn mở ra dồn dập trong năm 2005 sẽ khó tránh khỏi hệ quả là kích thích lạm phát và dẫn tới rủi ro tín dụng. Đây là vấn đề chúng ta phải tỉnh táo tập trung giải quyết trong năm 2006. Thứ hai là việc Việt Nam sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng là mừng nhưng cũng rất lo đối với hoạt động ngân hàng. Vì cạnh tranh chuyển vào trong nước rất mạnh mẽ, khốc liệt. Những tồn tại của chúng ta sẽ bộc lộ hết, nhất là trong điều kiện hiện nay việc chuẩn bị của doanh nghiệp, của nền kinh tế cho hội nhập còn rất nhiều khiếm khuyết. Nếu họ vào mà chúng ta không cạnh tranh nổi, doanh nghiệp thua lỗ thì ngân hàng chịu trước...
...Và cuối cùng là phòng chống rủi ro. Kinh tế thị trường càng phát triển thì rủi ro trong hoạt động ngân hàng càng cao. Nó thể hiện trong cả hoạt động thanh toán, tín dụng, tiền tệ. Đây là những vấn đề có tác động rất mạnh tới hệ thống ngân hàng mà chúng ta phải lưu ý.
* Tổng giám đốc Agribank, Lê Văn Sở:
Tính đến cuối năm 2005, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của Agribank đạt 162.000 tỷ đồng, tăng 15%. Chúng tôi kiên quyết rút những khoản đầu tư không hiệu quả, giảm dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước từ hơn 24% xuống còn 11%. Đẩy mạnh cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với dư nợ tăng 48% và chiếm tỷ trọng 28%. Trong đó, doanh nghiệp khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng 11%. Cho vay khu vực kinh tế hộ vẫn chiếm tỷ trọng 60% tổng dư nợ.
Nhờ kiên quyết chấn chỉnh công tác tín dụng, đặc biệt là thực hiện phân loại nợ, trích lập và xử lý dự phòng rủi ro theo quy chế mới nên nợ xấu của Agribank tính đến 31/12/2005 chỉ còn 2,3%. Năm 2005 cũng là năm Agribank đạt kết quả tài chính tốt nhất từ trước đến nay. Toàn bộ nợ xấu của Agribank đã được giải quyết xong.
Với khối lượng công việc khổng lồ của một ngân hàng có tới trên 9 triệu hộ đang vay vốn, công tác quản trị rủi ro của Agribank gặp nhiều khó khăn. Chúng tôi đề nghị NHNN chỉ đạo để hình thành một tổ chức có khả năng dự báo và thông tin hoạt động ngân hàng thường xuyên hơn, đặc biệt là thông tin về rủi ro cho các tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, cũng đã đến lúc NHNN phải "ra tay" để thúc đẩy việc kết nối hệ thống máy ATM của các ngân hàng.
*Tổng giám đốc Vietcombank, Vũ Viết Ngoạn:
...Một trong những mục tiêu đã được hoạch định trong Chiến lược phát triển ngân hàng là phấn đấu để trong vòng 10 năm nữa Việt Nam có các ngân hàng xếp vào hàng trung bình tiên tiến trong khu vực. Tôi cho rằng đây là mục tiêu khá lớn đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của ngành Ngân hàng. Chúng tôi dự tính nếu một ngân hàng đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực vào năm 2015 thì tổng tích sản của ngân hàng đó dự tính phải từ 50-70 tỷ USD.
Hiện tổng tích sản của Vietcombank vào khoảng hơn 8 tỷ USD. Với tốc độ tăng trưởng 15%/năm liên tục trong vòng 10 năm tới thì đến năm 2015 tổng tích sản của Vietcombank mới đạt khoảng 30-32 tỷ USD. Trong khi đó, một ngân hàng có tổng tích sản 30 tỷ USD thì chỉ có thể coi là trung bình tiên tiến về quy mô ở thời điểm hiện nay mà thôi. Vì vậy cần phải có sự hỗ trợ rất lớn, có định hướng chiến lược và có biện pháp rất cụ thể đối với quá trình tăng vốn của các ngân hàng. Tôi cho rằng cần phải tạo điều kiện để thành lập các tập đoàn tài chính đa năng.
Năm 2005 là năm đánh dấu rất rõ nét làn sóng các ngân hàng nước ngoài tham gia thị trường ngân hàng của chúng ta một cách tích cực hơn. Có tới 3 ngân hàng nước ngoài mua cổ phần và trở thành đối tác chiến lược của các ngân hàng TMCP trong nước. Với xu hướng đó, quy mô của các ngân hàng có vốn nước ngoài sẽ phát triển nhanh chóng. Đó là tín hiệu tích cực thúc đẩy hệ thống ngân hàng phát triển nhưng các ngân hàng lớn trong nước cũng phải nhìn nhận để giữ thị phần của mình, đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững.
* Vụ trưởng Vụ Tài chính ngân hàng-Bộ Tài chính, Phạm Phan Dũng:
...Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã phối hợp rất tốt để thực hiện cơ cấu lại tài chính cho các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN). Vốn điều lệ của các NHTMNN đã tăng gấp hơn 3 lần so với thời điểm cuối năm 2000. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu hội nhập cần phải nâng cao năng lực tài chính cho các NHTM mà trước hết là các NHTMNN. Chúng tôi đề nghị có sự phối hợp của các vụ, cục NHNN ngay từ đầu năm 2006 để xây dựng một phương án tăng vốn tự có cho các NHTMNN trên cơ sở các ngân hàng này đã đáp ứng yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro theo cơ chế hiện hành.
Năm 2005 năng lực tài chính của các NHTMNN đã được cải thiện đáng kể, lợi nhuận của các ngân hàng tương đối cao. Với khả năng tài chính hiện có của các NHTMNN, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính có thể tiến hành báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin phép chấp thuận giải pháp tăng vốn tự có cấp 1 cho các NHTMNN để các ngân hàng này có đủ năng lực tài chính trước khi tiến hành cổ phần hoá.
* Vụ trưởng Vụ Các ngân hàng và TCTD phi ngân hàng - NHNN, Kiều Hữu Dũng:
...Để tham gia hội nhập thì yêu cầu tăng vốn đối với các ngân hàng TMCP là đương nhiên. Chúng tôi dự kiến đưa ra một lộ trình tăng vốn từ năm 2006 đến năm 2010 để các ngân hàng chuẩn bị. Mốc đầu có thể là 200 tỷ đồng, sau đó là 500 tỷ đồng và 1.000 tỷ đồng. Theo chúng tôi, yêu cầu đó không phải là quá khó đối với nhiều ngân hàng nhưng các ngân hàng phải chuẩn bị trước. Bởi nó liên quan đến một loạt vấn đề về hệ thống mạng lưới, phát triển nghiệp vụ và hoạt động mà các ngân hàng phải tính đến.
Liên quan đến Quyết định 888 ngày 16/6/2005 về việc mở chi nhánh của các ngân hàng thương mại, chúng tôi có thể sẽ cân nhắc chỉnh sửa theo hướng nâng mức vốn cao hơn đối với việc mở chi nhánh ở đô thị và giảm yêu cầu về vốn đối với việc mở chi nhánh ở nông thôn. Việc này sẽ khuyến khích các ngân hàng tăng cường tiếp cận khu vực nông thôn. Không phải chỉ đối với Ngân hàng Nông nghiệp mà chúng tôi mong muốn cả các ngân hàng khác cân nhắc mở chi nhánh ở khu vực nông thôn.
TBNH