Ngày 18/8/2006 Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 41/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế hoạt động của lực lượng bảo vệ trong Hệ thống Ngân hàng Nhà nước. Quyết định này thay thế Quyết định số 249/NH-QĐ ngày 27/12/1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của lực lượng bảo vệ Ngân hàng.
Theo Quy chế mới ban hành, lực lượng bảo vệ trong các đơn vị thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước có chức năng bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn tài sản cho cơ quan. Thủ trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm về hoạt động bảo vệ tại cơ quan do mình phụ trách và căn cứ vào yêu cầu, tính chất, quy mô của đơn vị để quyết định bố trí lực lượng, kế hoạch và nội quy bảo vệ, kế hoạch huấn luyện, trang bị phương tiện nghiệp vụ làm việc cho lực lượng bảo vệ, kiểm tra, đôn đốc hoạt động bảo vệ tại cơ quan theo quy định của pháp luật và của Thống đốc. Tổ chức và biên chế của lực lượng bảo vệ thực hiện theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của đơn vị và các quy định của Thống đốc.
Các nhiệm vụ chính của lực lượng bảo vệ trong các đơn vị thuộc Hệ thống Ngân hàng Nhà nước gồm: Phối hợp với công an xã, phường, thị trấn và cảnh sát bảo vệ mục tiêu (nếu có) để nắm vững tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội nơi cơ quan đóng trụ sở. Xây dựng, trình Thủ trưởng đơn vị phê duyệt kế hoạch, nội quy bảo vệ cơ quan; biện pháp phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác thuộc trách nhiệm của cơ quan; Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan có thẩm quyền để ngăn ngừa, phát hiện và ngăn chặn những vi phạm nội quy bảo vệ cơ quan. Kịp thời đề xuất với Thủ trưởng cơ quan biện pháp xử lý Làm nòng cốt trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong cơ quan. Xây dựng cơ quan an toàn. Phối hợp với các tổ chức quần chúng trong cơ quan tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao ý thức cảnh giác cho mọi người, hướng dẫn các tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trong cơ quan; Thực hiện các quy định về công tác phòng cháy, chữa cháy và phòng chống bão lụt trên địa bàn; Trực tiếp tổ chức kiểm soát người ra vào cơ quan. Tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nội quy bảo vệ trong cơ quan; Khi có vụ việc xảy ra như: cháy, nổ, tai nạn, gây rối trật tự công cộng trong cơ quan, phải tổ chức bảo vệ hiện trường, cấp cứu nạn nhân, bắt người phạm tội quả tang và báo ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất.
Để có sơ sở hoàn thành các nhiệm vụ trên, theo Quy chế này lực lượng bảo vệ trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước có các quyền hạn: Kiểm tra, đôn đốc các bộ phận, cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan và nội quy bảo vệ cơ quan; Trong khi làm nhiệm vụ được kiểm tra giấy tờ, người, hàng hoá, phương tiện ra vào cơ quan nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc nội quy bảo vệ của cơ quan. Tuỳ theo mức độ vi phạm nặng hay nhẹ để nhắc nhở hoặc lập biên bản xử lý theo quy định của pháp luật, tiến hành xác minh những vụ việc xảy ra trong cơ quan theo sự uỷ quyền của thủ trưởng cơ quan hoặc yêu cầu của cơ quan công an có thẩm quyền.
Một trong những tiêu chuẩn của nhân viên bảo vệ trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước là phải được huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ do Công an cấp tỉnh trở lên tổ chức và cấp giấy chứng nhận. Nhân viên bảo vệ trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước được hưởng quyền lợi, chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhân viên bảo vệ của Nhà nước ban hành và các quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; được huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ. Những cán bộ bảo vệ thuộc biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, có năng lực và khả năng phát triển sẽ được xem xét, cử đi đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, đề bạt như những cán bộ khác.
CKH-VP