Minh Thu
Các loại thẻ dùng để cá nhân hoá thông tin về một đối tượng được sử dụng khá phổ biến trên khắp thế giới, đặc biệt tại nước có công nghệ phát triển, thẻ là công cụ có thể tương tác, giao dịch với các hệ thống chấp nhận thẻ tự động, nhanh chóng và chính xác.
Tại Việt Nam, người dân cũng đang quen dần với những chiếc thẻ. Thẻ sinh viên, thẻ rút tiền tự động (ATM), thẻ tín dụng, thẻ chấm công…đang trở nên rất thân thuộc với chúng ta bởi những lợi ích như tiết kiệm thời gian, tiền bạc và tiện lợi hơn cho người sử dụng cũng như nhà cung cấp dịch vụ.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các sản phẩm thẻ ngày càng được tích hợp nhiều công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ về mã hoá thông tin. Cũng chính từ công nghệ mã hoá thông tin và xử lý giao dịch thẻ, sản phẩm thẻ được phân loại theo tính chất của nó:
Thẻ mã vạch
Thay vì đọc mã số trên một sản phẩm hàng hóa để tính tiền thì nhân viên siêu thị chỉ việc giơ một chiếc máy đọc mã vạch vào một miếng dán nhỏ phía trên sản phẩm, ngay lập tức máy tính nhận biết tên hàng hóa, đơn giá và in biên lai thu tiền. Mã vạch (barcode) in trên thẻ nhựa cũng có tính năng tương tự. Mã số nhân viên, mã số khách hàng sẽ được mã hóa thành các vạch thẳng đứng, song song với độ rộng khác nhau và một thiết bị đọc sẽ chuyển các mã vạch đó thành mã số khi chủ thẻ xuất trình để được hưởng các quyền lợi sử dụng thẻ.
Có hai loại mã vạch là mã vạch một chiều (1D) và mã vạch hai chiều (2D). Tên gọi của mã vạch thể hiện công nghệ đọc khác nhau, máy đọc chỉ quét theo chiều ngang để nhận biết mã vạch 1D và cả hai chiều ngang dọc đối với mã vạch 2D. Trong khi mã vạch 2D có thể lưu trữ được số lượng thông tin hàng ngàn kí tự thì mã vạch 1D chỉ mã hóa được dãy số hoặc kí tự không quá 12. Thẻ mã vạch 1D được sử dụng tương đối phổ biến như thẻ nhân viên, thẻ khách hàng, thẻ ra vào cơ quan, còn thẻ mã vạch 2D thường được sử dụng cho thẻ CMTND nhằm lưu trữ các thông tin cá nhân như màu mắt, loại máu.
Thẻ từ
Cũng giống như băng Cassette, hoặc bằng Video, dải từ (magnetic stripe) gắn trên thẻ được thiết bị có từ tính để đọc, ghi hoặc xóa các dữ liệu ghi trên thẻ. Có hai loại thẻ từ là thẻ từ có mật độ từ cao (hico) và thẻ từ có mật độ từ thấp (loco). Để mã hóa thẻ từ hico người ta phải dùng nhiều năng lượng hơn so với thẻ từ loco và do vậy các thông tin lưu trên dải từ hico cũng khó bị phá huỷ hơn. Nếu vô tình để thẻ gần các vật có từ tính như nam châm, đài, ti-vi là có thể bị hỏng. Vì vậy, không nên để thẻ chấm công, thẻ ATM của mình gần các thiết bị sinh từ tính.
Tùy theo các thiết bị đọc thẻ mà người ta mã hóa thẻ từ theo các chuẩn khác nhau nhưng thông dụng nhất là chuẩn ABA (chuẩn mà ISO lấy làm tiêu chuẩn cho thẻ từ). Thẻ từ chuẩn ISO có ba rãnh từ (track), rãnh thứ nhất ghi được các kí tự và số, hai rãnh còn lại chỉ ghi được các con số. Tổng cộng ba rãnh chỉ ghi được 210 kí tự và số. Hiện tại, các máy in thẻ Datacard với mô-đun mã hoá thẻ từ có khả năng mã hoá thẻ từ hico & loco với các định dạng ISO hoặc NTT.
(Cnth theo thnh)