TS Nguyễn Quang\nVụ KHTN, CN, MT - Ban Khoa giáo Trung ương
1. Bối cảnh và điều kiện phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam
Chúng ta đều biết, cho đến nay chủ nghĩa tư bản đã trải qua ba giai đoạn phát triển kinh tế với ba cuộc cách mạng: cách mạng công nghiệp; cách mạng năng suất và cách mạng quản lý. Theo đường lối đổi mới cuả Đảng, từ năm 1986 nhân dân ta đã thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc.
Nhằm đạt được các mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2010 và 2020 mà Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã đề ra, vấn đề phát triển những công nghệ của những ngành sản xuất và kinh doanh mới, hiện đại và hiệu quả cao trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của nền kinh tế đất nước có ý nghĩa quan trọng quyết định. Các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã đặt ra cho các năm 2010 và 2020 là những mục tiêu tối thiểu, mà tuỳ theo tình hình và thời cơ xuất hiện trong quá trình thực hiện, chúng ta phải đạt mức cao hơn để có thể nhanh chóng bám đuổi các nước trong khu vực. Để xây dựng nền kinh tế đất nước trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay, sự phát triển các lĩnh vực kinh tế công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp đều phải hướng tới đạt được trình độ quản lý, năng suất và chất lượng tương đương của quốc tế.
Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam hiện nay không phải chỉ là sự di chuyển nguồn lực từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang khu vực công nghiệp và dịch vụ hiện đại mà xảy ra đồng thời với việc phát triển bộ phận kinh tế tri thức và tham gia của nền kinh tế Việt Nam vào sự hoạt động của mạng lưới sản xuất đa quốc gia và sự phân công lao động quốc tế thông qua chuyên môn hoá chức năng sản xuất theo hệ thống liên kết mạng.
2. Hiện trạng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam so với các nước Đông Á
Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng, nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển nhảy vọt về thực lực và trình độ công nghệ. Những số liệu so sánh trên bảng 1 và 2 cho thấy năm 2004, nước ta đã đạt mức GDP bình quân đầu người ngang với của Trung Quốc năm 1995, của Hàn Quốc năm 1974 và của Nhật Bản năm 1950. Đây là mức phát triển mà các nước công nghiệp phát triển trước kia như Anh, Pháp, Đức, Mỹ đã phải thực hiện trong 70 - 80 năm.
Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thể hiện qua ngưỡng 50% tỷ lệ lao động xã hội làm việc trong các khu vực công nghiệp và dịch vụ của nước ta lại chậm hơn các nước Đông Á và mục tiêu dự kiến phải đến năm 2010 mới đạt mức chuyển dịch cơ cấu lao động của Hàn Quốc năm 1970 và Nhật Bản năm 1950.
Bảng 1: So sánh trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam, Trung quốc và các nước Đông Á
Nước Năm
so sánh Dân số
(triệu người) GDP
(tỷ USD) GDP
đầu người
(USD) Năm đạt mức 50% lao động xã hội trong lĩnh vực CN và DV Năm đạt mức toàn dụng lao động xã hội
Việt Nam 1) 2004 81 43 530 Khoảng 2010 Khoảng 2020
Trung Quốc 2) 1995 1230 697,7a 567 a 1998 Khoảng 2010
Hàn Quốc 3) 1974 34,6 18,5 a 535 a 1970 1977
Nhật Bản 4) 1950 80 - Khoảng 500a 1929 và 1950 1960
(a) Theo giá so sánh năm 1994/95
Bảng 2: So sánh một số đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam, Trung quốc và các nước Đông Á
Nước Năm
so sánh Tỷ lệ XK/GDP (%) Tỷ lệ CN chế tạo/GDP (%) Tỷ lệ Đầu tư/GDP (%) Tỷ lệ tăng trưởng GDP giai đoạn 10 năm tiếp theo (%)
Việt Nam 1) 2004 55,8 20,1 36 7 – 8 a)
Trung Quốc 2) 1995 20,9 37,6 36 9
Hàn Quốc 3) 1974 24,6 26,1 28 8
Nhật Bản 4) 1950 - 68,5 b) 10,8 10
(a) Mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng IX
(b) Tỷ lệ giá trị các sản phẩm công nghiệp chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1950 của Nhật Bản
So sánh với mô hình phát triển kinh tế của các nước Đông Á và Trung Quốc, có thể nói mô hình phát triển kinh tế nước ta có nhiều điểm tương đồng như:
- Cùng là các nền kinh tế thị trường có tỷ lệ tiết kiệm cao có sự điều tiết, can thiệp mạnh của nhà nước vào định hướng đầu tư trọng điểm; cùng là các nền kinh tế công nghiệp hoá hướng ngoại, dựa vào xuất khẩu hoặc bằng cách thay thế nhập khẩu dương (Nhật Bản, Trung Quốc), hoặc bằng cách thay thế nhập khẩu âm (Hàn Quốc, Việt Nam).
- Các tập đoàn công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quyết định về trình độ công nghệ ở Nhật Bản (Keiretsu) và Hàn Quốc (Chaebol) theo hình thức sở hữu tư bản hỗn hợp (còn gọi là hình thức sở hữu tư bản hợp tác xã) nhưng nhận được sự hỗ trợ mạnh của chính phủ. Còn các công ty lớn của Trung Quốc và của Việt Nam (các TCT 90, 91) theo hình thức sở hữu nhà nước.
Trong giai đoạn 10 năm tiếp theo sau khi đạt trình độ phát triển như Việt Nam hiện nay, các nước Nhật Bản, Hàn quốc và Trung Quốc đều nhanh chóng chuyển sang tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp chế tạo giai đoạn sau có giá trị gia tăng và hàm lượng tri thức lớn, không những chỉ để đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn để tạo ra các sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Đó là các ngành công nghiệp chế tạo như dệt, luyện thép, hoá dầu, đóng tàu, kỹ thuật điện và máy móc. Đây cũng là cơ sở nền tảng để nền kinh tế các nước này có tốc độ tăng trưởng cao trong thời kỳ 10 năm sau đó, khi đã chuyển hẳn sang sản xuất các sản phẩm công nghiệp chế tạo giai đoạn sau có giá trị gia tăng rất cao. Đến năm 1970, nền kinh tế Nhật Bản đã có quy mô thứ hai thế giới. Nền kinh tế Hàn Quốc thậm chí đã thực hiện được bước nhảy tắt, bước thẳng từ các sản phẩm chế tạo giai đoạn đầu sang các sản phẩm chế tạo giai đoạn sau như ô tô và các phương tiện vận tải, máy móc, các sản phẩm điện tử và công nghệ thông tin. Vì vậy, Hàn Quốc đã tạo ra sự tăng trưởng thần kỳ trong thời kỳ mười năm tiếp theo 1986 – 1995, đưa GDP bình quân đầu người từ 2.200 USD (1985) lên hơn 10.000 USD (1995)3).
Với quy mô kinh tế to lớn của mình, các nước Nhật Bản trước kia và Trung Quốc hiện nay đã hoặc đang phát triển một nền công nghiệp chế tạo đồng bộ trên tất cả lĩnh vực công nghiệp và cấp độ công nghệ (fullset industries). Chỉ từ những năm 80 của thế kỷ XX, để duy trì khả năng cạnh tranh bằng phân công lao động quốc tế, Nhật Bản mới chuyển dịch dần các ngành công nghiệp chế tạo giai đoạn đầu và giữa sang Trung quốc và các nước Đông Nam Á. Còn Trung Quốc đến thời điểm hiện nay đã đuổi kịp trình độ công nghệ trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của Hàn Quốc 5) .
Đánh giá hiện trạng công nghiệp hoá của Việt Nam hiện nay và so sánh với các nước Đông Á trong cùng giai đoạn phát triển, có thể nhận thấy những đặc điểm như sau:
- Nước ta đạt được tỷ lệ Đầu tư/GDP ngang với Trung Quốc (36% GDP), cao hơn Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, do hệ số ICOR cũng cao hơn nên tốc độ tăng trưởng cho đến nay lại thấp hơn.
- Với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và sản xuất nông nghiệp, nước ta đạt được giá trị xuất khẩu và tỷ lệ xuất khẩu/GDP cao hơn (gần 56% GDP), tạo thuận lợi cho quá trình nhập khẩu máy máy móc, thiết bị công nghệ để tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao.
- Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại các ngành công nghiệp chế tạo giai đoạn sau (cũng như theo mục tiêu 10 năm tới) của Việt Nam như dệt, thép, hoá chất, hoá dầu, công nghiệp phụ trợ phát triển chậm hơn và mới chỉ nhằm vào mục tiêu thay thế nhập khẩu. Ví dụ như năm 2003, nước ta tiêu thụ 6 triệu tấn thép, nhưng phải nhập khẩu đến 2 triệu tấn phôi và 3 triệu tấn thép. Như vậy, mức tiêu thụ thép của Việt Nam đã đạt mức nhu cầu dự báo cho năm 2010, vượt trước đến 7 năm 6) .
- Khác với các tập đoàn công nghiệp lớn của Nhật Bản và Hàn Quốc, phần lớn các TCT 90, 91 là của nước ta được thiết lập theo ngành sản xuất và mới chỉ đầu tư vào các lĩnh vực có trình độ công nghệ trung bình, mới chú trọng chiếm lĩnh thị trường trong nước, chưa tập trung đầu tư các công nghệ tiên tiến, quy mô lớn để tập trung cao độ cho việc thực hiện mục tiêu xuất khẩu, chưa sản xuất các sản phẩm chế tao có hàm lượng chất xám cao. Cấu trúc sản xuất - kinh doanh đơn ngành của các TCT 90, 91 như hiện nay chỉ có tác dụng khống chế thị trường và giá cả trong nước, khả năng cạnh tranh quốc tế yếu kém.
Từ trình độ của nền kinh tế hiện nay, để phát triển nhanh bộ phận kinh tế tri thức trong toàn bộ nền kinh tế Việt Nam chúng ta có thể tận dụng sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại để nhanh chóng sao chép và phổ biến những ý tưởng và kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ, gia tăng mạnh mẽ tốc độ phổ biến công nghệ. Hiện nay, nền kinh tế thế giới vẫn nằm trong thời kỳ mang tính chuyển đổi và hình mẫu công nghệ – kỹ thuật và tổ chức của thời đại mới vẫn chưa được xác định hoàn toàn và chín muồi; hình mẫu hình mẫu công nghệ – kỹ thuật của thời đại công nghiệp vẫn đang còn hiệu lực. Tính chất giao thời của hình mẫu công nghệ cho thấy các công nghệ sản xuất các sản phẩm hiện có chưa mất đi, mà chỉ được chuyển giao từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước kém phát triển hơn. Hình thái vận động cơ cấu công nghiệp theo kiểu làn sóng đang tiếp tục rất mạnh mẽ. Sự thiếu hụt tri thức, khoa học và công nghệ của một nước kém phát triển như Việt Nam có thể được khắc phục nhanh chóng nếu chúng ta tận dụng được cơ hội này11).
(còn nữa)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2004 của Chính phủ.
(2) Trung Quốc năm 2020, Báo cáo của Ngân hàng Thế giới 2001
(3) Sự trỗi dậy của nền kinh tế Hàn Quốc, NXB Thống kê 2002
(4) Chính sách công nghiệp Nhật Bản, NXB Chính trị Quốc gia 1999
(5) Thời báo Kinh tế Sài gòn, Tháng 4/2004
(6) Cơ sở khoa học trong chiến lược phát triển KT-XH ViệtNam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
(7) Cuộc chạy đua vào thế kỷ 21, NXB Chính trị Quốc gia 2004
(8) Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 294, tháng 11/2002
(9) Tổng hợp từ các Niên giám thống kê KT-XH Việt Nam, NXB Thống kê.
(10) Kinh tế Việt Nam và Thế giới 2003/2004, Chuyên san Thời báo kinh tế Việt Nam
(11) Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 314, tháng 7/2004