Sau hơn 12 năm vừa triển khai thí điểm, vừa củng cố chấn chỉnh hoạt động, bước đầu hoàn thiện mô hình liên kết hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đã xác lập được một mô hình tổ chức tín dụng hợp tác phù hợp với địa bàn nông nghiệp, nông thôn nước ta. Tính đến ngày 31/8/2005, đã có 930 QTDND được thành lập với 1.012.091 thành viên. Để đưa ra chiến lược hoạt động trong thời gian tới, Vụ Các tổ chức tín dụng (NHNN) đã dự thảo "Định hướng chiến lược phát triển hệ thống QTDND giai đoạn 2006 - 2010".
Một chặng đường đeo đuổi mục tiêu
Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn nông thôn, QTDND đã phát huy vai trò ngày càng rõ nét. Nếu như năm 1994, số lượng thành viên tham gia vay vốn từ 151 quỹ tín dụng là 75.910 người, bình quân món vay 2,7 triệu đồng, thì đến năm 2005, đã có trên 666 ngàn lượt thành viên vay vốn từ 930 quỹ, với bình quân mức vay tăng gấp 6 lần (14,8 triệu đồng/người). Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư được huy động qua QTDND đã góp phần giúp các thành viên mở rộng sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, phát triển ngành nghề cải thiện đời sống, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Nghị quyết đại hội Đảng khoá XI và Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX xác định "Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt". Nhân tố không thể thiếu trong việc phát triển khu vực kinh tế tập thể đó chính là hệ thống QTDND. Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trương dần dần đưa hệ thống QTDND cùng với các tổ chức tín dụng nhà nước trở thành nền tảng trong hoạt động tiền tệ tín dụng ngân hàng ở khu vực nông thôn giai đoạn 2006 - 2020. "Định hướng chiến lược phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân giai đoạn 2006 - 2010" đã được Vụ Các tổ chức tín dụng hợp tác soạn thảo theo yêu cầu của Chính phủ mà Bộ Kế hoạch - đầu tư làm đầu mối. Đây cũng là mong muốn chung của các QTDND nhằm định hướng tương lai phát triển. Theo đó, năm 2010 sẽ phát triển QTDND Trung ương trở thành Ngân hàng hợp tác xã của hệ thống QTDND. Đến năm 2020 sẽ phát triển hệ thống QTDND thành một tập đoàn tổ chức tín dụng hợp tác, có thương hiệu và khả năng cạnh tranh, góp phần hỗ trợ phát triển các loại hình hợp tác xã khác.
Cần chi tiết hoá chiến lược
Mặc dù có nhiều vấn đề góp ý của các đại biểu không nhằm sửa đổi dự thảo, song nó đã làm cho các nhà hoạch định hiểu rõ hơn về những lỗ hổng của hệ thống.
Ông Đỗ Mạnh Hùng - Tổng giám đốc QTDNDTW đã nêu 16 vấn đề cần xem xét trong bản dự thảo. Bên cạnh những chi tiết thiếu sót cần bổ sung, ông quan ngại về mục tiêu mà các QTDND theo đuổi. Theo ông, hiện các quỹ tín dụng đều giảm chi để tối đa lợi tức chia cho các thành viên góp vốn. Đây chính là nguyên nhân khiến các QTDND không đầu tư đào tạo nhân lực và hiện đại hoá thiết bị. Chỉ có 1-2% số QTDND quan tâm đến vấn đề này. Cơ sở vật chất nghèo nàn, hoạt động nghiệp vụ mang tính thủ công cùng với việc không chủ động tích luỹ để mở rộng hoạt động kinh doanh, cho thấy các QTDND hoạt động rất thụ động, nếu không có biện pháp sẽ dẫn đến việc ỷ lại vào Chính phủ. Hơn thế nữa, sự yếu kém trong quản lý, nhân lực và trang thiết bị sẽ làm cho các QTDND không thể cạnh tranh với các loại hình tín dụng khác, hiệu quả hoạt động kém.
Với 77 quỹ tín dụng hoạt động trên địa bàn, đại biểu đến từ NHNN - Chi nhánh Thái Bình đã đưa ra một thực trạng về đào tạo nhân lực. Sự hạn chế về trình độ học vấn của các cán bộ QTDND hiện nay là một rào cản đối với việc hướng dẫn nghiệp vụ, cũng như tiếp cận những định hướng phát triển, văn bản pháp luật… Độ tuổi cũng là một vấn đề cần quan tâm. Đa phần các thành viên tham gia QTDND trong độ tuổi 50 - 60 thậm chí có thành viên đã 70 tuổi - cái tuổi khó có thể tiếp cận được những kiến thức mới. Thậm chí nếu có đào tạo, thì khi kết thúc khoá học, chưa chắc họ còn đủ sức khoẻ để tham gia hoạt động. Cũng bức xúc về vấn đề đào tạo nhân lực, Giám đốc QTDND Tân Ninh, Triệu Sơn, Thanh Hoá trăn trở, hầu hết cán bộ đều chỉ học hết trung học cơ sở, vì vậy những bài toán kinh tế về quản trị đơn giản họ cũng không thể làm được, nói chi đến việc hoạch định chiến lược. Đây cũng là lý do khiến ông kiến nghị vấn đề nhân lực phải đặt lên hàng đầu và phải giải quyết xong vào năm 2010 thay vì triển khai từ 2011 - 2015.
Theo bà Mai Sương - Phó giám đốc NHNN Hà Nội, hiện đại hoá ngân hàng cũng là vấn đề then chốt sau nhân lực để các QTDND có thể tồn tại và cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác. Mặc dù ở Thủ đô, nhưng hiện hệ thống QTDND cơ sở mới chỉ có 7 máy vi tính và các QTDND cũng chỉ dám mua máy thanh lý về sử dụng. Lý do khiến các QTDND không thể hiện đại hoá cũng một phần do vốn điều lệ và vốn hoạt động quá nhỏ. Đại diện NHNN chi nhánh Hà Tây cho rằng chiến lược phát triển QTDND phải chia làm 2 phần riêng biệt cho QTDNDTW và QTDND cơ sở. Phải xác định rõ mô hình tương lai của QTDND đến năm 2020 là ngân hàng hợp tác hay vẫn là QTDND. Vì nếu hướng tới là ngân hàng hợp tác thì xem ra mục tiêu tương trợ kinh tế tập thể sẽ mất, hay nói cách khác QTDND sẽ xa rời mục tiêu hoạt động. Ông cũng cho rằng cần phải nhìn nhận thẳng thắn trách nhiệm của NHNN Việt Nam với sự phát triển của Hệ thống QTDND trong thời gian vừa qua. Việc ban hành chậm những văn bản hướng dẫn đã là nguyên nhân dẫn đến sự chậm phát triển của QTDND cơ sở. Các đại biểu cũng cho rằng chiến lược còn quá sơ sài, phải có một chiến lược cụ thể, được lượng hoá để đánh giá sự phát triển của QTDND qua các giai đoạn và định hướng cho giai đoạn tới. Hơn thế nữa cần phải thể chế hoá sự phối hợp của các bộ ngành cũng như địa phương để xây dựng hệ thống QTDND, đẩy mạnh hoạt động của Hiệp hội QTDND…
Minh Ngọc