Linh Lan
Chúng ta đã có tâm lý sợ lạm phát. Hai từ này nhắc chúng ta nhớ lại thời kỳ lạm phát phi mã năm 1986-1988 (1986: 774%; 1987: 323,1%; 1988: 393%). Hệ quả là đời sống nhân dân gặp không ít khó khăn, nền kinh tế phát triển rất chậm. Nhưng để có nhận thức đúng về lạm phát, chúng ta phải nhìn nhận lại vấn đề này một cách thực tế, nếu biết dùng lạm phát như một công cụ hữu hiệu thì có thể thúc đẩy kinh tế tăng trưởng trong xu thế toàn cầu hóa.
Giáo sư Paul A. Samuelson (nhà kinh tế học người Mỹ, đoạt giải Nobel kinh tế năm 1970) đã nói rằng: "Tôi sợ lạm phát. Và tôi sợ cái sợ lạm phát" (I fear inflation. And I fear the fear of inflation). Như vậy, để cho thấy rằng lạm phát gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế như thế nào, có thời gian người ta đã coi lạm phát là kẻ thù của nền kinh tế, nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế rằng, lạm phát trong xu thế toàn cầu hóa đã được các nước dùng như một công cụ thúc đẩy kinh tế phát triển. Cần phải đổi mới tư duy về lạm phát, sống chung với lạm phát.
Kinh nghiệm của Trung Quốc và Mỹ đáng để chúng ta suy ngẫm khi muốn đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế của đất nước, họ chấp nhận lạm phát cao vừa phải, cao hơn mức tăng trưởng GDP đôi chút. Trung Quốc dùng lạm phát bình quân 10,98% trong 14 năm (1984-1997) để tạo số vốn từ phát hành tiền lên 3235,71 tỷ NDT (tương đương 383,2 tỷ USD), giúp tăng trưởng GDP 3,23 lần và 3 lần tăng lương, trở thành cường quốc kinh tế thứ tư trên thế giới. Mỹ cũng đã sử dụng chỉ số lạm phát (CPI) cao hơn GDP, thậm chí có năm mức chênh lệch này lên đến hàng chục lần. Chẳng hạn trong thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước: 1973 CPI là 11,0%, GDP là 5,77%; năm 1979 CPI là 13,7%, GDP là 3,18%; 1981 CPI là 4,4%, GDP là 2,45%… (nguồn: Thống kê tài chính quốc tế của IMF).
Việt Nam năm 2005 đã đạt GDP tính theo đầu người là 553 USD/người/năm, so với Thái Lan năm 2004 đã đạt 1478 USD. Theo các nhà kinh tế, với tốc độ tăng trưởng 7%/năm, phải đến năm 2019 Việt Nam mới đạt mức GDP theo đầu người của Thái Lan năm 2004. Như vậy, dùng công cụ lạm phát có mức độ có sức mạnh giúp ta khắc phục nguy cơ tụt hậu.
Tại hội thảo "Về lạm phát qua lịch sử tiền tệ Việt Nam " do Hội đồng khoa học xã hội TP.Hồ Chí Minh tổ chức mới đây, đưa ra ý kiến: Thực tế Việt Nam là làm sao để nhận diện đúng về lạm phát. Kế hoạch năm 2006 của Chính phủ là kiềm chế CPI thấp hơn mức tăng trưởng GDP. Có nên để CPI dưới mức tăng trưởng GDP, nên để lạm phát càng nhỏ càng tốt hay để ở mức hai con số để tăng trưởng kinh tế? Nghệ thuật là làm sao vận dụng một cách khoa học vào thực tiễn của Việt Nam . Coi lạm phát có mức độ có lợi nhiều hơn có hại. Cái lợi đó là tạo vốn cực rẻ cho phát triển kinh tế; góp phần xóa bỏ khủng hoảng kinh tế và suy thoái. Chủ nghĩa tư bản luôn gặp khủng hoảng sản xuất thừa, đến nỗi phải đổ hàng hóa xuống sông xuống biển. Lạm phát tiền tệ tạo sức mua mới để tiêu thụ hết số hàng hóa dư thừa đó, nên đã chấm dứt được khủng hoảng kinh tế thế giới chu kỳ từ năm 1933; giúp ngân sách bội chi lớn mà không làm tăng lạm phát để chi mở công trường, chống thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo nhiều hơn. Cái lợi của lạm phát là từ thập kỷ 1990, chỉ số giá tăng chậm hơn nhiều so với mức tăng của khối tiền tệ như ở Mỹ. Ở Việt Nam, giá tăng chậm hơn tiền diễn ra sau việc chấm dứt lạm phát phi mã kỳ diệu năm 1989.
Có ý kiến cho rằng, việc tính CPI không nên loại giá dầu và giá lương thực ra khỏi "rổ hàng hóa", vì đây là hai mặt hàng thiết yếu. Phải nhìn vào con số thực và nguyên nhân để điều chỉnh, không nên quá nhắm vào mục tiêu. Đặc điểm của Việt Nam là Nhà nước nắm trong tay một lượng kiều hối rất lớn. Đó là một thứ hàng hóa đặc biệt, cho phép chúng ta đưa ra một lượng tiền tương ứng mà không sợ lạm phát tăng lên. Với vấn đề lạm phát ở Việt Nam cũng có nguyên nhân từ việc đầu tư vào các dự án không hiệu quả, gây thất thoát hàng chục nghìn tỷ đồng như: việc đầu tư cho thuyền đánh bắt cá xa bờ không hoạt động; hệ thống nhà máy đường để có thể sản xuất 1 triệu tấn đường bị phá sản, 43 dự án xây dựng "đen"… khiến cho tổng số nợ không thể trả được lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Lần đầu tiên công khai kết quả kiểm toán năm 2005 tại 11 Bộ, 30 tỉnh, thành phố, 9 dự án và 19 tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước đã cho thấy số tiền lãng phí tại các cơ quan, đơn vị này lên tới 4400 tỷ đồng, đặc biệt đáng chú ý là các công ty làm ăn thua lỗ lên đến nhiều ngàn tỷ đồng. Một số nhà kinh tế cho rằng, việc Bộ Tài chính bù giá xăng dầu tốn kém 27.000 tỷ đồng, như vậy, chẳng khác nào nhường quyền kiểm soát lạm phát và điều hành ngân sách cho các tập đoàn dầu lửa đầu cơ lũng đoạn giá xăng dầu trên thế giới. Cứ tăng giá xăng dầu là họ nâng cao lạm phát ở Việt Nam và ký lệnh chi ngân sách tăng thêm cho việc bù giá xăng dầu.
Lạm phát có mặt tích cực của nó, dùng nó để thúc đẩy kinh tế phát triển. Đó là một xu hướng đã được các nước đi trước chứng minh là đúng đắn. Nghệ thuật và trí tuệ của người lãnh đạo là ở chỗ biết dung hòa hai mặt đó. Với một tư duy mới và cái nhìn mới về lạm phát trong vấn đề của kinh tế hôm nay, nghệ thuật quản lý đang đòi hỏi chúng ta vận dụng chính sách tiền tệ để giải quyết vấn đề lạm phát một cách linh hoạt hơn, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn.