Tận dụng cơ hội khi kinh tế thế giới hồi phục
Việt Nam phải coi trọng việc duy trì động lực cải cách, nhằm củng cố tính cạnh tranh của nền kinh tế để có thể tận dụng được cơ hội khi nền kinh tế thế giới phục hồi trở lại. Đó là một trong 3 nhận định của ông Benedict Bingham, Trưởng đại diện Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam trao đổi với Thời báo Ngân hàng nhân dịp đầu năm mới. (Hồng Dung thực hiện).
PV: Từ cuối năm 2008, IMF đã dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2009 vào khoảng 5%. Thực tế diễn ra khá sát với dự báo này. Vậy, cơ sở nào để IMF đưa ra con số đó?
Ông Benedict Bingham: Nói chung, có hai yếu tố mà chúng tôi sử dụng để đưa ra dự báo. Yếu tố thứ nhất, giả định của chúng tôi về môi trường kinh tế bên ngoài ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam . Nói cụ thể hơn là triển vọng kinh tế toàn cầu, triển vọng giá cả của các mặt hàng trọng điểm mà Việt Nam xuất khẩu, cũng như triển vọng của các dòng vốn. Yếu tố thứ hai là sự đánh giá của chúng tôi về việc nền kinh tế trong nước có thể tăng trưởng nhanh như thế nào mà không gây ra những rủi ro cho sự ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu theo kết quả công bố GDP năm 2009 ở mức 5,32%, khá gần với dự báo ban đầu của chúng tôi, thì việc đạt được mức tăng trưởng cao hơn này đã phải trả một chi phí cao hơn đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô mà chúng tôi đã từng hy vọng. Lý do là Chính phủ đã tìm cách để duy trì mức tăng trưởng cao, thông qua việc phát động một chương trình kích thích kinh tế lớn, bất chấp thực tế suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2009 đã nghiêm trọng hơn IMF đã dự đoán trong tháng 12/2008. Nhìn lại, chúng ta đã biết rằng các nền kinh tế toàn cầu đã giảm khoảng 1%, hơn là tăng trưởng ở mức 2,25% như chúng tôi đã có dự báo lúc ban đầu. Chúng tôi đã muốn tư vấn cho chính phủ Việt Nam tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ (CG) năm 2008 theo hướng một mục tiêu tăng trưởng thấp hơn như sau này chúng tôi đã tư vấn. Việc này nhằm đảm bảo rằng, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng hợp lý, đồng thời tránh được những khó khăn kinh tế vĩ mô mà chúng ta đã gặp phải trong nửa cuối năm nay.
PV: Cảnh báo của IMF về các chỉ số kinh tế vĩ mô như tỷ giá, thâm hụt cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế… thường là ảm đạm hơn so với dự kiến của Chính phủ Việt Nam, tại sao thưa ông?
Ông Benedict Bingham: Chúng tôi đã rất cố gắng để đảm bảo rằng các dự báo của chúng tôi phản ánh một sự đánh giá cân bằng về viễn cảnh của nền kinh tế dựa trên các thông tin mà chúng tôi có. Tuy nhiên, một vài điều thường không được đánh giá đầy đủ. Trước tiên, bất kỳ dự báo nào cũng có một sai số nhỏ. Và dự đoán càng không chắc chắn hoặc có diện sai số lớn hơn bởi vì sự nhiễu loạn của nền kinh tế (như chúng ta đã chứng kiến năm ngoái) hoặc do thiếu dữ kiện và thông tin. Đó là lý do tại sao nên thường xuyên xem xét một cách toàn diện các dự báo khác nhau về các biến số thì có ích hơn nhiều so với việc tập trung vào các dự báo so với các con số chi tiết. Thứ hai, dự đoán của IMF nói chung là dựa trên sự hiểu biết tốt nhất của chúng tôi về các chính sách của Chính phủ. Một trong những chức năng của các dự báo IMF là thường đưa ra các cảnh báo về một định hướng chính sách cụ thể có thể gây ra những khó khăn kinh tế vĩ mô, như là các áp lực lên cán cân thanh toán quốc tế hoặc lạm phát cao hơn. Nếu những cảnh báo này là thành công, nó có thể gợi ý cho chính phủ thay đổi chính sách và tránh những khó khăn trong kinh tế vĩ mô. Điều này nên được xem như một sự phát triển tích cực hơn là một bản cáo trạng của các dự báo ban đầu.
PV: Vì sao IMF và các nhà tài trợ khác bày tỏ sự lo ngại về gói kích cầu của Việt Nam , trong khi vẫn khuyến nghị kéo dài của gói kích thích kinh tế đối với các quốc gia châu Á khác?
Ông Benedict Bingham: Tôi nghĩ rằng, chúng tôi đã quan ngại với cùng một lý do với Chính phủ. Cụ thể, chúng ta ngày càng thấy rõ rằng các gói kích thích đã thực hiện đúng mục đích của nó, nhưng lại đặt ra một rủi ro đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là áp lực lên cán cân thanh toán quốc tế. Đó cũng là lý do tại sao chúng tôi rất hoan nghênh việc thay đổi trong định hướng chính sách mà Chính phủ đưa ra vào đầu tháng 12/2009 đó là tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, đúng là IMF đã khuyến nghị nhiều nước trong khu vực kéo dài chương trình kích thích kinh tế của họ và khuyến nghị này xem ra không nhất quán với sự tư vấn của chúng tôi cho Việt Nam . Thực ra không phải như vậy. Lời tư vấn của chính tôi cho Việt Nam , cũng như với tất cả các nước thành viên IMF, là hãy thiết kế các chính sách phù hợp với hoàn cảnh kinh tế mà họ phải đối mặt. Sự khác biệt chính giữa Việt Nam và các nước xung quanh là, hầu hết các nước láng giềng trong khu vực có dự trữ ngoại tệ khá lớn và thặng dư cán cân vãng lai đối ngoại và rất nhiều nước này có chế độ tỷ giá linh hoạt. Trong khi đó, Việt Nam có dự trữ ngoại tệ khiêm tốn hơn, có thâm hụt cán cân vãng lai và một chế độ tỷ giá kém linh hoạt hơn. Hậu quả là khả năng thực thi các chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng mà không gây mất ổn định kinh tế.
PV: Vậy, theo quan điểm của ông, Việt Nam nên làm gì để có thể tận dụng được cơ hội khi mà nền kinh tế thế giới phục hồi trở lại?
Ông Benedict Bingham: Tôi cho là có 3 điều cần ưu tiên. Thứ nhất phải hoàn thiện quá trình khôi phục sự ổn định kinh tế vĩ mô mà chính phủ đã bắt đầu hồi tháng 12, bởi vì chính phủ sẽ không thể duy trì đà phát triển kinh tế nếu cứ phải tiếp tục đấu tranh với những sức ép ở thị trường ngoại hối. Thứ hai, phải thiết lập một khung chính sách phù hợp để duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và tránh những chu kỳ bùng nổ và đổ vỡ mà chúng ta đã chứng kiến trong suốt 24 tháng qua. Điều này đòi hỏi phải có sự ăn khớp tốt hơn với các mục tiêu kinh tế, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng kinh tế và với các hạn chế mà nền kinh tế đang phải đối mặt. Bên cạnh đó, phải có sự quản lý cẩn trọng hơn đối với các chính sách tài khóa và tiền tệ để đảm bảo các điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định. Điều cuối cùng, phải coi trọng việc tiếp tục duy trì động lực cải cách kinh tế nhằm tiếp tục củng cố tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam . Việc này có nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể chỉ ra vài ví dụ như nâng cấp hạ tầng cơ sở, cải thiện khuôn khổ hành chính, pháp lý và giáo dục… Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải hiện đại hóa các thể chế có trách nhiệm quản lý các chính sách kinh tế bởi vì điều này là cốt lõi để đảm bảo rằng Việt Nam đạt được các mục đích của mình là trở thành một nền kinh tế thị trường đang nổi hiện đại vào cuối thập kỷ này. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm tới đi cùng chiến lược phát triển trong 10 năm sắp tới mang đến cho Chính phủ một cơ hội quan trọng để hình thành chiến lược cải cách kiến trúc bộ máy thể chế quản lý nền kinh tế mà nó sẽ là nền tảng cho các mục tiêu tham vọng khác của quốc gia.
PV: Xin cảm ơn ông!