Dương Quỳnh (thực hiện)
Theo TS. Trần Du Lịch, Uỷ viên Ủy ban Kinh tế Quốc Hội, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia, khó có thể đoán định khủng hoảng tài chính toàn cầu chuyển sang khủng hoảng kinh tế, đến nay đã tới điểm dừng chưa và bao giờ có thể phục hồi. Ông nói:
Cuộc khủng hoảng kinh tế lần này có điểm khác biệt là xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính, bắt đầu từ nền kinh tế Mỹ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, sự lây lan rất nhanh và không có nền kinh tế nào trên thế giới miễn dịch được. Nhưng nền kinh tế thế giới hiện nay khác rất xa so với các thời kỳ trước đây, như thời kỳ 1929-1933. Vì mọi nền kinh tế đều có sự can thiệp của Nhà nước dù với mức độ khác nhau. Sự nỗ lực của từng Chính phủ và sự cộng tác giữa các Chính phủ thông qua các định chế quốc tế khá tích cực sẽ chắc chắn "phanh" được đà suy thoái.
Mặt khác, do xuất phát từ khủng hoảng tài chính, nên nếu các nỗ lực của các Chính phủ khơi dậy được niềm tin cho thị trường, thì đó chính là yếu tố để hồi phục (thực chất bên trong của khủng hoảng tài chính là khủng hoảng niềm tin). Tôi đang thấy có tín hiệu này, nên tin rằng tình hình sẽ không quá tồi tệ và có lẽ cũng đã sắp đến điểm dừng. Nhưng sự trì trệ sẽ còn kéo dài và khả năng hồi phục của mỗi nền kinh tế sẽ khác nhau, tùy vào hiệu quả của những chính sách và giải pháp thực thi.Trong bối cảnh đó nền kinh tế nước ta vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng, nhưng mức độ sẽ giảm dần và sẽ sớm hồi phục nếu thực hiện có hiệu quả các giải pháp ngăn chặn suy giảm.
PV: Nói về tính hiệu quả của các gói giải pháp ngăn chặn suy giảm mà Chính phủ đã đưa ra, hiện vẫn còn khá nhiều ý kiến khác nhau. Vậy ý kiến của cá nhân ông?
TS. Trần Du Lịch: Hiện nay phần lớn các nước áp dụng các gói giải pháp kích thích chống suy thoái kinh tế tựu trung có 3 loại: kích cầu tiêu dùng; kích cầu đầu tư và tăng chi tiêu của Chính phủ. Từ cuối tháng 12/2008, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30 nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an sinh xã hội gồm 5 nhóm giải pháp đã bao hàm cả 3 loại này. Mặt khác, gói giải pháp mà Chính phủ Việt Nam đang thực hiện cũng nhất quán với 3 nguyên tắc kích cầu, xét về cả lý thuyết lẫn thực tiễn (kịp thời, đúng đối tượng, ngắn hạn). Hiện nay các giải pháp trên đang đi vào cuộc sống và đang có tác động tích cực. Tuy nhiên, cách tổ chức thực hiện vẫn không tránh khỏi tình trạng thiếu đồng bộ như việc triển khai Quỹ bảo lãnh tín dụng nhằm giải quyết nhu cầu vốn rất bức xúc đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các làng nghề, các tổ chức kinh tế tập thể… Do cơ chế phối hợp và thủ tục còn rất chậm, rườm rà nên đến nay vốn vẫn chưa đến được đối tượng thụ hưởng.
PV: Vậy còn gói kích cầu 17.000 tỷ đồng mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang được giao nhiệm vụ thực hiện thì sao thưa ông? Liệu có mang lại kết quả như mong đợi?
TS. Trần Du Lịch: Giải pháp bù lãi suất 4% vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp theo Quyết định số 131 của Thủ tướng Chính phủ giao cho NHNN tổ chức thực hiện đang được triển khai khá khẩn trương, kết quả đã khá rõ và đúng với mục tiêu đề ra. Đến nay, sau 6 tuần thực hiện, số hợp đồng tín dụng được hưởng chính sách bù lãi suất mà các NHTM thực hiện đã vượt 25% mức tín dụng dự kiến. Nếu chỉ xét về lượng, thì đây là một kết quả khá cao. Bản chất của gói tín dụng này là hỗ trợ vốn lưu động, giúp thanh khoản, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp lành mạnh hóa cơ cấu tài chính. Đồng thời cũng hỗ trợ các NHTM duy trì các hoạt động tín dụng trong bối cảnh sức cầu giảm. Với mục tiêu như vậy, tôi cho rằng gói kích cầu này đang triển khai đúng hướng.
PV: Ông có cho rằng nên mở rộng đối tượng được hưởng bù lãi suất và kéo dài thời hạn vay?
TS. Trần Du Lịch: Thực ra, nếu chỉ dừng lại ở việc thực hiện chính sách bù lãi suất cho các khoản vay vốn lưu động như chúng ta đang làm, dù kết quả tốt đến đâu cũng mới chỉ xoa dịu được "cơn đau" chứ chưa thể làm cho doanh nghiệp khỏe mạnh thực sự được. Vấn đề hiện nay là cần phải lồng giải pháp ngắn hạn với giải pháp trung - dài hạn nhằm giúp doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu theo hướng cạnh tranh. Tuy nhiên, riêng gói tín dụng ngắn hạn này cũng cần theo dõi đánh giá tác động của nó đối với yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất, nhất là hạn chế sa thải lao động. Vì tạo việc làm là mục tiêu cao nhất và cơ bản nhất của mọi quốc gia, khi sử dụng ngân sách của Nhà nước để kích cầu. Đồng thời cần công khai minh bạch về thủ tục, tiến độ, đối tượng thụ hưởng, kết quả thực thi. Ví dụ như mở một chuyên mục trên website của NHNN để dễ dàng theo dõi và nhiều hình thức khác nữa.
PV. Như ông nói, phải chăng cần có một gói kích cầu đầu tư mới tiếp theo, bổ sung cho gói giải pháp đang thực hiện?
TS. Trần Du Lịch: Đúng vậy, tôi nghĩ rằng, ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu hiện nay đã giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ nét hơn những nhược điểm của cơ cấu kinh tế và cũng giúp cho doanh nghiệp thấy rõ hơn nhược điểm của mình. Cơn bão khủng hoảng, dù ảnh hưởng đến đâu rồi cũng sẽ qua. Nhưng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng mới là vấn đề lớn nhất đối với nền kinh tế nước ta. Tôi nghĩ rằng, đây là cơ hội để Chính phủ đưa ra gói kích cầu đầu tư nhằm giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nhất là hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, chuyển nền kinh tế từ gia công sang sản xuất. Đây cũng là cơ hội để Chính phủ tăng đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn; tăng chi ngân sách cho đầu tư thông qua việc vay nợ.
PV: Theo ông, trong thời điểm hiện nay, chính sách tiền tệ hay chính sách tài khóa phải đi trước một bước?
TS. Trần Du Lịch: Trong năm 2009, tôi cho rằng các công cụ tiền tệ sẽ ít còn "dư địa" để tác động đến điều chỉnh kinh tế vĩ mô, mà giờ đây chính là lúc sử dụng công cụ tài khóa. Cụ thể là chính sách tăng chi công để kích thích tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Hay nói một cách hình ảnh là, công cụ chi công là nhấn "ga", còn công cụ tiền tệ như "phanh". Cả hai công cụ này cần phối hợp với nhau nhịp nhàng, ăn khớp để vừa kích thích tăng trưởng vừa đề phòng nguy cơ tái lạm phát.
Trên bình diện thị trường, thì hiện nay dư địa để có thể thúc đẩy tốc độ tăng trưởng nhanh, bù đắp mức suy giảm là thúc đẩy phát triển ngành xây dựng, mà ngành này lại liên quan nhiều đến thủ tục hành chính, nên càng thấy rõ sự cần thiết phải thực hiện đồng bộ gói giải pháp kích thích kinh tế, mà Chính phủ đã đề ra. Tôi nghĩ rằng trong năm 2009-2010 chính là thời điểm thuận lợi để Chính phủ có thể thực hiện các chính sách nhằm chuyển những thách thức ngắn hạn thành cơ hội, tái cấu trúc nền kinh tế cho mục tiêu dài hạn, mà đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cho các ngành công nghiệp phụ trợ, nâng tỷ trọng nội địa hóa các ngành công nghiệp là hai mũi có thể đột phá được.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!