Vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Lê Đức Thúy đã có cuộc trao đổi thẳng thắn với báo giới về một số vấn đề liên quan đến Nghị định phòng, chống rửa tiền. Ông lưu ý những lời bình thiếu thận trọng có thể "đổ thêm dầu vào lửa" và kêu gọi các nhà báo: "Hãy chia sẻ với Chính phủ". Phóng viên Thời báo Ngân hàng lược ghi lại cuộc trao đổi này. Các tiêu đề do toà soạn đặt. Tuấn Anh (thực hiện)
Tội phạm rửa tiền đã từng "gõ cửa" NHNN
... Chúng ta không có cái từ gọi là tội rửa tiền nhưng hành động phạm pháp liên quan đến tội phạm rửa tiền và hợp thức hoá những khoản tiền do phạm tội mà có thì trong xã hội của chúng ta cũng đã xuất hiện. Tôi đã tiếp và đã phải xử lý một vài vụ khi những đối tác nước ngoài vào đây với ý đồ lừa đảo chúng ta. Năm 1998 một nhân vật người Đức vào NHNN xin mở một tài khoản tại NHNN và nói rằng nếu cho mở tài khoản thì sau 1 tuần sẽ chuyển vào 100 triệu USD để cho vay trong 30 năm với lãi suất ưu đãi 2%/năm. Không ít cán bộ trong NHNN cũng đã phấn khởi theo đuổi việc này kể cả lãnh đạo vì coi đó là một trong những đóng góp (thu hút vốn-PV) cho hoạt động kinh tế-xã hội của đất nước. Nhưng sau khi thận trọng xem xét, tìm hiểu nguồn gốc người này đại diện cho ai, thực tế có tiền hay không... thì hoá ra đây là hành vi lợi dụng, tìm cách mở tài khoản tại NHNN chỉ để đi lừa đảo... Tôi cũng đã từng tiếp những nhân vật vào Việt Nam nói rằng nếu ký kết các hợp đồng vay vốn thì sẽ cho vay 20 tỷ USD trong 20 năm lãi suất ưu đãi và sau 10 năm sẽ xoá luôn khoản nợ chỉ với điều kiện có 5% lại quả... Các TCTD của chúng ta cũng đã nhận được những giấy tờ về tín dụng thư mà nếu ngân hàng chấp nhận bảo lãnh thanh toán thì sẽ được hưởng một phần phí rất hấp dẫn... Đấy là một số ví dụ về hành vi lừa đảo diễn ra ở Việt Nam dưới hành vi tội phạm rửa tiền chứ không phải không có. Họ đã từng đến "gõ cửa" NHNN. Nhiều đồng chí công tác ở NHNN lâu năm đã biết rất nhiều vụ đến NHNN để mong hợp pháp hoá tiền phạm tội hoặc là tìm cách lừa đảo. Đấy là một thực tiễn của đất nước.
"Cuộc chiến" không thể trì hoãn
Chúng ta đang trong quá trình hội nhập, Ngân hàng Phát triển Châu á, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), các nhà tài trợ quốc tế đều đòi hỏi Việt Nam phải có luật pháp về chống rửa tiền. Nếu không có thì Việt Nam không đạt được những yêu cầu về hội nhập và không đạt được những điều kiện cần thiết để được nhận các khoản tài trợ. Chính vì vậy, việc ban hành Nghị định về phòng, chống rửa tiền cũng là một trong những biện pháp bắt buộc phải có trong quá trình chúng ta hội nhập quốc tế.
Mặc dù, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ có hiệu lực nhưng các ngân hàng Việt Nam không mở được văn phòng đại diện hay chi nhánh tại Mỹ. Một trong những lý do phía Mỹ từ chối là vì Việt Nam chưa có pháp luật về chống rửa tiền. Cho nên chúng ta phải có những văn bản pháp luật mà mục tiêu của nó là đấu tranh chống tội phạm về rửa tiền, chống những hành vi phạm tội và hợp thức hoá những khoản tiền do phạm tội mà có chứ không phải ban hành nghị định để chống hay là gây khó khăn cho doanh nghiệp và dân cư làm ăn lương thiện.
Mức giao dịch phải báo cáo theo quy định là nhiều hay ít?
Có người đặt câu hỏi tại sao Việt Nam là một nền kinh tế tiền mặt mà lại quy định mức giao dịch phải báo cáo ít như vậy. Vậy thế nào là ít và thế nào là nhiều? Một giao dịch 200 triệu đồng tiền mặt tức là khoảng 13.000-14.000 USD là phải báo cáo theo quy định. Khi làm nghị định này chúng tôi đã thảo luận, hội thảo và tham khảo ý kiến về vấn đề này rất nhiều, tranh luận cũng dữ... Nhưng ngay cả những nước có nền kinh tế tiền mặt hoặc gần như Việt Nam thì quy định của họ giới hạn tối đa là 10.000 USD, tức là thấp hơn mức quy định của Việt Nam . Kể cả giao dịch tiết kiệm, trong khi Việt Nam đưa ra mức giao dịch tiền gửi tiết kiệm phải báo cáo là 500 triệu đồng, tức là hơn 33.000 USD thì họ cũng quy định ở mức thấp hơn của chúng ta.
Có thể quy định lớn hơn được không? Có một vướng mắc là nếu quy định rộng quá thì phòng, chống rửa tiền mất tác dụng. Rộng rãi quá sẽ tạo điều kiện cho kẻ phạm tội có thể lợi dụng kẽ hở để rửa tiền. Và như vậy thì chúng ta trong khi tạo thuận lợi cho người không phạm tội có thể lại để lọt tội phạm. Đấy là điều chúng tôi phải cân nhắc. Nhưng điều thứ hai là các tổ chức quốc tế không đồng tình, ngay cả như mức quy định hiện nay của chúng ta. Họ cho rằng với mặt bằng giá cả Việt Nam , thu nhập của người Việt Nam mà quy định như vậy là quá lớn, quá rộng. Và nếu quy định rộng thì họ cho rằng mình không thực sự muốn chống hành vi tội phạm, không muốn chống rửa tiền, họ đặt mình vào danh sách các quốc gia không hợp tác trong chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. Indonesia và Phillippin bị đặt vào diện các nước bất hợp tác và các đồng chí có muốn Việt Nam bị đặt vào diện ấy trong khi Việt Nam đang đàm phán để gia nhập WTO không? Các nước kia đã là thành viên rồi, làm gì thì họ xoay trở được còn ta thì đang đàm phán. Chỉ cần tuyên bố của các tổ chức tài chính quốc tế là Việt Nam không hợp tác về chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố thì chắc chắn là không nước nào lại đồng ý cho chúng ta gia nhập WTO, nhất là với Mỹ, là nước mà ta đang đàm phán. Đấy là những vấn đề mà chúng tôi thực sự băn khoăn xử lý để sao cho phù hợp và bây giờ cũng đang thuyết trình với bên ngoài để họ thấy mức ấy ban đầu là có thể chấp nhận được.
Hãy chia sẻ với Chính phủ
Có thể người dân cảm thấy vẫn không thoải mái cho nên có tâm lý lo ngại, băn khoăn là mình giao dịch như vậy, mình là người đàng hoàng mà lại bị đưa vào diện "có vấn đề" thì thật là khó chịu. Hiểu thế nào cho đúng? Khi cơ quan điều tra nghi vấn về một trường hợp nào đó người ta có quyền (ở cấp nhất định theo nghị định của Chính phủ) xem xét các hoạt động giao dịch. Cho nên cũng phải nói rằng quy định như vậy là để tạo ra một khuôn khổ pháp lý minh bạch cho hoạt động này. Trong nghị định cũng không yêu cầu báo cáo về số dư tài khoản. Trên tài khoản có số dư bao nhiêu đấy là quyền của người có tài sản.
Tôi cũng hiểu tâm lý của người Việt Nam chúng ta là dù có đàng hoàng đến mấy thì cũng không muốn người ta để ý đến mình. Đó là điều mà những người được giao soạn thảo nghị định chúng tôi hết sức quan tâm. Nhưng do yêu cầu đấu tranh chống tội phạm của chính chúng ta, do yêu cầu hội nhập thì tôi cũng mong muốn báo chí góp phần làm cho công chúng chia sẻ với Chính phủ, chia sẻ với đất nước về một việc tất yếu phải làm chứ không phải đưa tin để làm cho công chúng thêm hoang mang.
Vừa qua không phải không có hiện tượng một vài người không hiểu đi rút tiền. Tuy không trở thành một trào lưu nhưng nếu chúng ta tuyên truyền không khéo thì có thể gây nên những hoảng loạn không cần thiết. Và những hoảng loạn không cần thiết đó có thể dẫn đến sự đổ vỡ cả một hệ thống... Những lúc nhạy cảm như vậy, các nhà báo thấy cần thiết là phải điện hỏi ngay về những băn khoăn của người dân hay băn khoăn của chính người viết báo để có giải thích thoả đáng. Như vậy cũng là giúp cho đất nước, cho Chính phủ biết được là dân có những điều chưa phải là hài lòng; nhưng phải làm sao giúp họ ủng hộ một quyết sách về mặt pháp lý là cần thiết, về mặt thực tiễn là cần thiết và về mặt quá trình hội nhập là cần thiết...