Việc thực hiện đồng bộ và quyết liệt Nghị quyết 11 đã mang lại những hiệu quả ban đầu. Các chuyên gia cho rằng, hơn lúc nào hết đây là lúc chúng ta cần nhất quán và kiên định với những mục tiêu, chính sách đã đề ra. Nếu không, nguy cơ tái bùng phát lạm phát, bất ổn vĩ mô trở lại và suy giảm niềm tin thị trường vẫn hoàn toàn có thể xảy ra.
Theo đánh giá chung của các đại biểu tham dự hội thảo "Bất ổn kinh tế vĩ mô (KTVM) và ý nghĩa phúc lợi: Kinh nghiệm quốc tế và bài học với Việt Nam" vừa diễn ra ngày 28/6, việc Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết 11 (NQ 11) đã mang lại những thành công lớn ban đầu. Nền kinh tế vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng khá (5,6%); sản xuất kinh doanh vẫn được duy trì, xuất khẩu tăng trưởng mạnh... Đặc biệt, 2 tháng trở lại đây lạm phát đã giảm tốc khá mạnh. Đóng góp trong thành quả này, không thể không nói tới việc điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) một cách linh hoạt và thận trọng.
TS. Nguyễn Ngọc Bảo - Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ - NHNN cho biết, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ theo NQ 11 và NQ 83, NHNN đã áp dụng đồng bộ, tổng hợp nhiều biện pháp nhằm thực hiện bằng được các mục tiêu đề ra. Tính đến 20/6, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,45% so với cuối năm 2010 và tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước. Tín dụng tăng 7,13% so với cuối năm ngoái và tăng 26,07% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó tín dụng VND tăng 2,67%, tín dụng bằng ngoại tệ tăng 23,4%. Với tốc độ như vậy, chắc chắn đến cuối năm 2011, tổng phương tiện thanh toán sẽ tăng 15-16% và tín dụng tăng dưới 20% như mục tiêu NQ 11 đã đề ra. Đặc biệt, dòng vốn tín dụng được tập trung mạnh cho sản xuất. Đến cuối tháng 5, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực sản xuất tăng 10,97% so với cuối năm 2010, chiếm tỷ trọng 83% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế; tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu tăng khoảng 25%, gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng tín dụng chung đối với nền kinh tế. Trong khi đó, dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất giảm 9,46% so với cuối năm 2010, chiếm tỷ trọng 16,91% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế.
Đồng thời, sau nhiều giải pháp can thiệp đồng bộ và hiệu quả của NHNN, thị trường ngoại hối và thị trường vàng đã đi vào ổn định. Việc ổn định các thị trường này đã hỗ trợ tích cực cho công cuộc kiềm chế lạm phát và gia tăng vị thế VND, tạo điều kiện giảm dần mặt bằng lãi suất. Theo TS. Nguyễn Ngọc Bảo, lãi suất liên ngân hàng giảm rõ rệt; sức ép đối với lãi suất huy động cũng giảm, trong khi lãi suất cho vay đối với một số lĩnh vực đã bắt đầu giảm nhẹ.
Tuy nhiên, hiện CSTT vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, nổi lên trong đó là lãi suất cao ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, vấn đề nợ xấu của ngân hàng, thị trường ngoại hối và tỷ giá còn chịu nhiều áp lực. Những áp lực này đến từ những bất ổn của kinh tế vĩ mô vẫn còn lớn. Đó là lạm phát vẫn còn cao, tính theo năm đã lên tới 20,82%; nhập siêu lớn (6 tháng đầu năm, nhập siêu đạt 6,65 tỷ USD)...
Bên cạnh đó, TS. Lê Xuân Nghĩa - Phó chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cho rằng, bất ổn KTVM còn do cách thức điều hành của chúng ta có nhiều vấn đề. Việc nới lỏng tín dụng quá sớm của những năm trước là bài học chưa cũ. Do đó, theo TS. Nghĩa chúng ta nên tính toán lại các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô theo thông lệ quốc tế, đúng với bản chất của nó thì từ đó mới có thể điều hành (cũng bằng những thông lệ quốc tế) để có được hiệu quả dài hạn.
Đồng quan điểm này, theo bà Nguyễn Thị Kim Thanh - Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (NHNN), các giải pháp của NQ 11 đã mang lại thành công bước đầu nhưng để đảm bảo lâu dài thì phải tiếp tục nhất quán trong chọn lựa và theo đuổi mục tiêu đề ra. Ví dụ trong 6 tháng vừa qua, giữa vấn đề tỷ giá, lãi suất và tăng trưởng tín dụng, NHNN đã lựa chọn ổn định thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối ổn định đã giúp tác động tích cực đến thị trường vàng cũng như vấn đề lãi suất và tăng trưởng tín dụng. TS. Võ Trí Thành - Phó viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương cũng thẳng thắn, nhìn vào chỉ số của Tổng cục Thống kê công bố gần đây thì tình hình không đến nỗi "sắp chết" như DN đang kêu. Thị trường (cả trong và ngoài nước) đều phản ứng tích cực với NQ 11 nhưng mức độ "nghi ngờ" vẫn còn rất cao. "Cao nhất thể hiện ở người dân, họ dịch chuyển từ USD sang tiền đồng hơn 1 tháng nay rất rõ, nhưng chủ yếu là gửi ngắn hạn. Tức là họ lại sẵn sàng chuyển sang vàng, đô la nếu thấy bất ổn quay trở lại" - TS. Thành giải thích. Ngoài ra, chỉ số CDS (chỉ số hoán đổi rủi ro tín dụng), sau khi đã giảm một chút từ khi NQ 11 được áp dụng nhưng từ tháng 5 đến nay, chỉ số này lại tăng lên khá mạnh. Trên thực tế, các tổ chức như S&P, Moody và Fitch thì họ vẫn giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam ở mức xấu từ cuối năm ngoái và đầu năm nay. Việc này có thể là họ đang chờ (để đánh tụt xuống nữa hoặc cũng có thể nâng lên) tùy thuộc vào tính quyết liệt trong việc thực hiện NQ 11 của Việt Nam … Đấy là những yếu tố cho thấy lòng tin cần tiếp tục được củng cố thông qua việc thực hiện quyết liệt, nhất quán các mục tiêu đã đề ra.
Đỗ Lê