a) Tên Đề tài: Giải pháp quản lý thị trường vàng miếng ở Việt Nam sau thời điểm 30/06/2013 - Mã số: DTNH.03/2014.
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
c) Những người tham gia chính:
1. TS. Phạm Hữu Phương, Nguyên Vụ trưởng, Trưởng Văn phòng đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Thành phố HCM - Chủ nhiệm;
2. ThS. Nguyễn Việt Trung - Văn phòng đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Thành phố HCM;
3. ThS. Dương Thanh Bình - Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN;
4. ThS. Phạm Việt Nga - Vụ Quản lý ngoại hối, NHNN;
5. TS. Nguyễn Văn Thầy - Văn phòng đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Thành phố HCM;
6. CN. Nguyễn Văn Tiềm - Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, NHNN;
7. CN. Nguyễn Đức Lệnh - NHNN chi nhánh TP.HCM;
8. CN Đặng Xuân Sinh - Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển VN.
d) Mục tiêu của nhiệm vụ:
Để sắp xếp lại một cách căn bản và tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường vàng theo tinh thần quản lý tại Nghị định số 24/2012/NĐ-CP, đề tài DTNH.03/2014 nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng quản lý thị trường vàng miếng ở Việt Nam trước và sau thời điểm Nghị định 24 có hiệu lực, trên cơ sở đó đề xuất cho NHNN các giải pháp quản lý đối với thị trường vàng miếng.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
– Thời gian bắt đầu: Tháng 04/2014;
– Thời gian kết thúc: Tháng 04/2016.
e) Kinh phí thực hiện: 200 triệu đồng
g) Kết quả thực hiện
Đề tài DTNH.03/2014 được cấu trúc thành 03 chương với các nội dung nghiên cứu chính như sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở lý luận về thị trường vàng miếng và quản lý nhà nước đối với thị trường vàng miếng, bao gồm: Đặc điểm, các yếu tố tác động đến thị trường vàng miếng; Vai trò, công cụ và phương pháp quản lý nhà nước đối với thị trường vàng miếng; mối quan hệ giữa chính sách quản lý đối với thị trường vàng miếng với chính sách quản lý ngoại hối và chính sách tiền tệ của NHNN và kinh nghiệm quản lý đối với thị trường vàng của một số quốc gia trên thế giới. Tại đây, nhóm nghiên cứu rút ra một số bài học cho Việt Nam như: (i) Một cơ chế quản lý vàng miếng với tính chất là một công cụ chính sách tiền tệ sẽ hỗ trợ kiểm soát lạm phát; (ii) NHNN cần hướng tới việc kiểm soát việc kinh doanh, đầu tư vàng, đồng thời cần nghiên cứu vấn đề thuế, xử lý vấn đề tỷ giá, lãi suất trong mối quan hệ với vàng, tạo cơ sở cho việc sử dụng các công cụ tài chính thay thế cho vàng vật chất; (iii) Việc tự do hóa thị trường vàng nên theo tiến trình từ thị trường vàng vật chất, sau đó đến kinh doanh vàng tài khoản và cuối cùng là hoạt động xuất nhập khẩu vàng.
Chương 2 nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với thị trường vàng miếng ở Việt Nam, đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường vàng miếng, phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa chính sách quản lý đối với thị trường vàng miếng với chính sách quản lý ngoại hối và chính sách tiền tệ và những vấn đề đặt ra đối với việc quản lý của NHNN. Nghiên cứu tại chương 2 cho thấy khung pháp lý quản lý nhà nước, đặc biệt là Nghị định số 24/2012/NĐ-CP đã có tác động rõ nét trong việc tăng cường quản lý thị trường vàng miếng, giúp lập lại trật tự thị trường vàng, tác động tích cực lên ổn định tỷ giá, ổn định thị trường tiền tệ và kinh tế vĩ mô.
Tại Chương 3, nhóm nghiên cứu tập trung phân tích về chính sách quản lý nhà nước đối với thị trường vàng miếng ở Việt Nam sau thời điểm 30/6/2013 trong mối quan hệ với chính sách quản lý ngoại hối và chính sách tiền tệ của NHNN, từ đó đưa ra gợi ý chính sách về quản lý nhà nước đối với thị trường vàng miếng. Theo đó, trong giai đoạn 2016-2020, NHNN cần tập trung vào một số vấn đề như hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý nhà nước đối với thị trường vàng miếng; nghiên cứu điều chỉnh dần điều kiện xuất nhập khẩu vàng trong mối quan hệ với quy định về thuế, phí và quản lý thị trường, kiểm soát tốt lạm phát để gia tăng niềm tin của công chúng vào giá trị đồng nội tệ. Nhóm tác giả cũng đề xuất một số khuyến nghị đối với Chính phủ và các bộ ngành liên quan nhằm tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường vàng miếng.
Nội dung nghiên cứu của đề tài được Hội đồng đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại trung bình./.