a) Tên Dự án: Xây dựng và ứng dụng mô hình cảnh báo sớm về căng thẳng tiền tệ, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng tại VN - mã số DANH.01/2013
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: ThS. Ngô Thị Thu Trà - Trưởng phòng, Vụ Dự báo, Thống kê tiền tệ- NHNN.
- Thư ký: ThS. Hoàng Việt Phương - Phó Trưởng phòng, Vụ Dự báo, Thống kê tiền tệ- NHNN.
- Các thành viên tham gia:
d) Mục tiêu của nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tổng quan các phương pháp cảnh báo sớm về căng thẳng tiền tệ, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, xác định ngưỡng cảnh báo cho từng chỉ số được lựa chọn trên cơ sở các phương pháp được các tổ chức quốc tế xây dựng và phù hợp với thực tiễn VN.
- Xây dựng và chạy thử mô hình cảnh báo sớm về căng thẳng tiền tệ, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam dạng tham số và phi tham số.
- Đề xuất mô hình cảnh báo sớm về căng thẳng tiền tệ, thanh khoản trong hệ thống NH trong tương lai.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 07/2013.
- Thời gian kết thúc: Tháng 04/2016.
e) Kinh phí thực hiện: 150 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm thiết lập và đưa vào vận hành mô hình cảnh báo sớm về căng thẳng tiền tệ, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, hỗ trợ thiết thực cho việc thực thi các nhiệm vụ hoạch định và điều hành chính sách của NHNN, dự án DANH.01/2013 đã triển khai các nội dung nghiên cứu sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở lý luận về cảnh báo sớm căng thẳng tiền tệ và thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, bao gồm: Khái niệm về hệ thống cảnh báo sớm (EWS); Khái quát về các phương pháp luận EWS phổ biến trên thế giới; Cơ sở lý luận về EWS căng thẳng tiền tệ; Cơ sở lý luận về EWS căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu cho thấy các nguyên nhân dẫn đến căng thẳng tiền tệ gồm:
(i) Nhóm nguyên nhân cơ bản, mang tính chủ quan, bắt nguồn từ sự mất cân đối hay mất ổn định kéo dài tiềm tàng trong hệ thống, làm gia tăng tính dễ tổn thương của nền kinh tế và hệ thống tài chính, tiền tệ trước những cú sốc từ bên ngoài. Những nguyên nhân này thường tạo ra áp lực khá dai dẳng trên thị trường ngoại hối và có thể được phát hiện nếu theo dõi diễn biến của các chỉ tiêu có liên quan và NHTW có thể có cơ hội điều chỉnh kịp thời các yếu tố cơ bản này để giúp giảm bớt thậm chí triệt tiêu căng thẳng tỷ giá. Những nguyên nhân này nếu không được khắc phục và điều chỉnh kịp thời, thì có thể trở thành những ngòi nổ cho một cuộc khủng hoảng tiền tệ với những hậu quả nặng nề.
(ii) Nhóm nguyên nhân phi cơ bản, không mang yếu tố chủ quan, mà phần nhiều bắt nguồn từ các yếu tố khách quan. Với nguyên nhân này, diễn biến tỷ giá trên thị trường chính thức và/hoặc tự do biến động bất thường không bắt nguồn từ sự mất cân đối cung cầu ngoại tệ thực sự từ nền kinh tế, do đó không một phần mềm hay mô hình cảnh báo sớm nào có thể dự đoán được chính xác thời điểm hay khả năng xảy ra các yếu tố này. Trong trường hợp tỷ giá biến động nhẹ, NHTW chỉ cần trấn an thị trường. Tuy nhiên, NHTW cũng có thể phải can thiệp mạnh để giữ tỷ giá ổn định hoặc phá giá đồng tiền nhằm bảo toàn dự trữ ngoại hối khi tỷ gía biến động mạnh hơn.
Trong hệ thống ngân hàng, các nguyên nhân có thể dẫn đến căng thẳng thanh khoản gồm:
(i) Sự mất cân đối về các kênh huy động vốn;
(ii) Sự mất cân đối cơ cấu kỳ hạn và quy mô giữa tài sản có và tài sản nợ, mà chủ yếu là giữa tiền gửi và cho vay;
(iii) Biến động bất thường của nền kinh tế thực trong nước và quốc tế;
(iv) Biến động bất thường của thị trường tiền tệ, tài chính trong nước và quốc tế (tỷ giá, lãi suất, chứng khoán, dòng vốn..);
(v) Sự yếu kém trong hệ thống chính sách, công cụ và năng lực quản trị rủi ro thanh khoản của các TCTD;
(vi) Tác động lan truyền hệ thống.
Chương 2 đã khảo sát khá chi tiết về kinh nghiệm thực tiễn xây dựng các mô hình cảnh báo sớm tại một số quốc gia láng giềng của Việt Nam như Hàn Quốc, Hồng Kông, Thái Lan và mô hình cảnh báo sớm vùng của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho 6 nước khu vực Châu Á. Trên cơ sở đó, Nhóm nghiên cứu đã rút ra bài học kinh nghiệm toàn diện cho Việt Nam trong công tác xây dựng và vận hành hệ thống cảnh báo sớm vĩ mô. Cụ thể, liên quan đến cách thức thiết lập các mô hình EWS, Việt Nam nên vận dụng kết hợp linh hoạt cả 2 phương pháp tiếp cận phổ biến là phi tham số và tham số nhằm tận dụng các ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của mỗi phương pháp. Liên quan đến việc lựa chọn các chỉ tiêu có khả năng cảnh báo căng thẳng/ khủng hoảng tiền tệ, ngân hàng, tài chính, Việt Nam chưa xây dựng được chuỗi dữ liệu về các chỉ tiêu này, thậm chí chưa có tổ chức, cơ quan nào chịu trách nhiệm tính toán và công bố các chỉ tiêu này. Liên quan đến khuôn khố và dạng thức cảnh báo sớm, cần phải phát triển một hệ thống cảnh báo sớm trên toàn các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Đồng thời, cần có sự chia xẻ kết quả và phối hợp chặt chẽ trong công tác cảnh báo sớm cũng như ngăn ngừa, đối phó khủng hoảng/căng thẳng giữa các cơ quan hoạch định chính sách phụ trách các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Liên quan đến việc vận hành và sử dụng hệ thống EWS trong hoạch định chính sách và cảnh báo an toàn, ổn định vĩ mô, cần phải thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm ở cấp độ vi mô dựa trên số liệu thanh tra – giám sát từng tổ chức tài chính riêng lẻ và có cơ chế kết hợp kết quả giám sát, cảnh báo sớm từ hai cấp độ này thành một hệ thống cảnh báo sớm chung, toàn diện cho cả hệ thống từ vi mô đến vĩ mô.
Chương 3 của Dự án phân tích thực tiễn về căng thẳng tiền tệ, thanh khoản VNĐ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, từ đó rút ra dấu hiệu của các đợt căng thẳng tỷ giá và căng thẳng thanh khoản VNĐ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Kết quả nghiên cứu gợi ý căng thẳng thanh khoản VNĐ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể biểu hiện qua các dấu hiệu sau:
- Các mức lãi suất thị trường gồm có lãi suất giao dịch VNĐ trên thị trường LNH kỳ hạn qua đêm và 1 tuần, lãi suất huy động vốn VNĐ, lãi suất cho vay VNĐ biến động tăng mạnh.
- Lãi suất liên ngân hàng vượt cao hơn lãi suất giao dịch trên thị trường mởkỳ hạn 7 ngày (sau đây gọi tắt là lãi suất OMO), cao hơn lãi suất tái cấp vốn, trái với quy luật thông thường.
- Sự sụt giảm mạnh vốn thanh khoản của hệ thống ngân hàng và sự gia tăng hoặc sụt giảm đột biến số dư huy động vốn các TCTD trên thị trường liên ngân hàng.
Chương 4 của dự án tập trung mô tả kết quả xây dựng các mô hình cảnh báo sớm căng thẳng tiền tệ, thanh khoản VNĐ cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trên cơ sở kết quả của việc xây dựng thành công 2 mô hình EWS về căng thẳng tiền tệ, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Việt Nam nêu tại Chương 4 cũng như các nền tảng cơ sở lý luận và thực tiễn nêu tại các Chương 1, 2, 3, trong Chương 5, nhóm nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp chi tiết về lộ trình và 6 cấu phần công việc cần thực hiện tại NHNN nhằm ứng dụng các kết quả của nghiên cứu và các mô hình vào công tác theo dõi, phân tích, cảnh báo an toàn, ổn định tiền tệ ngân hàng của NHNN, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng của mô hình, năng lực trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác cảnh báo sớm và một số giải pháp khác cần triển khai nhằm thiết lập, hoàn thiện khuôn khổ cảnh báo sớm toàn diện ở tầm quốc gia nhằm nâng cao khả năng cảnh báo sớm và phòng ngừa, quản lý các rủi ro mang tính hệ thống. Trong đó:
- Cấu phần 1: Ban lãnh đạo NHNN và các đơn vị chức năng xem xét sử dụng chọn lọc bảng các ngưỡng cảnh báo rủi ro đối với các chỉ tiêu quan trọng mà các mô hình EWS trong Dự án này đã đưa ra, có thể sử dụng các ngưỡng này như những mốc neo tham chiếu để đánh giá mức độ an toàn hoặc tình trạng dễ tổn thương của từng khu vực trong hệ thống.
- Cấu phần 2: NHNN chính thức đưa vào vận hành thường xuyên định kỳ các mô hình EWS, sử dụng như một trong các công cụ định lượng chính hỗ trợ phân tích và cảnh báo an toàn, ổn định kinh tế vĩ mô và hệ thống ngân hàng. Đơn vị chủ trì là Vụ Dự báo Thống kê
- Cấu phần 3: NHNN tăng cường đầu tư nguồn lực, tiếp tục hoàn thiện hệ thống các mô hình EWS nhằm phục vụ ngày càng đắc lực, hiệu quả cho công tác phân tích, cảnh báo an toàn, ổn định tiền tệ, ngân hàng tại NHNN.
- Cấu phần 4: NHNN phát triển một hệ thống đồng bộ các công cụ hỗ trợ, bổ sung cho nhau để phục vụ cho công tác giám sát, phân tích, cảnh báo an toàn hoạt động ngân hàng và ổn định vĩ mô. Cấu phần này thuộc về chiến lược phát triển của ngành ngân hàng và được tiến hành xuyên suốt, song song với các cấu phần khác dưới sự chỉ đạo của BLĐ NHNN.
- Cấu phần 5: NHNN đẩy mạnh công tác đào tạo, tăng cường năng lực chuyên môn trong lĩnh vực cảnh báo sớm và phân tích, cảnh báo an toàn, ổn định tiền tệ ngân hàng cho các cán bộ liên quan thông qua nhiều hình thức đa dạng.
- Cấu phần 6: NHNN cần kiến nghị với Chính phủ và các Bộ Ngành liên quan về việc thiết lập khuôn khố và dạng thức cảnh báo sớm mang tầm quốc gia.
Theo nhóm nghiên cứu, căng thẳng tiền tệ (tỷ giá) và căng thẳng thanh khoản là 2 loại rủi ro căng thẳng thường trực, phổ biến trong nền kinh tế và hệ thống tài chính, ngân hàng, đặc biệt là đối với những nước có nền kinh tế nhỏ, mở, dựa nhiều vào luồng vốn nước ngoài và hoạt động kinh tế đối ngoại, hệ thống ngân hàng tài chính còn non trẻ, đang trong giai đoạn phát triển bùng nổ, trình độ và kinh nghiệm quản trị thanh khoản, rủi ro còn hạn chế, công cụ bảo hiểm rủi ro chưa phát triển, tài khoản vốn tương đối mở cửa trong khi chính sách tỷ giá, lãi suất còn chưa hoàn toàn tự do, lạm phát đã từng nhiều năm ở mức cao, giá trị đồng bản tệ đã từng nhiều năm bị xói mòn như Việt Nam.
Theo kinh nghiệm quốc tế, không có một mô hình EWS nào là hoàn hảo và có thể nhận diện chính xác tất cả những nguy cơ rủi ro trong tương lai, đặc biệt nếu các rủi ro thay đổi về bản chất hoặc thay đổi các kênh truyền dẫn. Tuy nhiên, rất cần thiết có một công cụ định lượng để giúp phần nào nhận diện sớm và đo lường mức độ nghiêm trọng của các rủi ro này. Các mô hình EWS trình bày trong Dự án, mặc dù mới ở giai đoạn đầu phát triển, nhưng có khả năng cảnh báo tương đối tốt, phù hợp với tình hình thực tiễn và có thể tin cậy để sử dụng như một trong những công cụ giúp cảnh báo sớm và nhận diện những nguy cơ, rủi ro tiềm tàng về mất ổn định tỷ giá, thanh khoản, góp phần nâng cao chất lượng công tác phân tích, cảnh báo an toàn, ổn định vĩ mô của hệ thống tài chính, tiền tệ, ngân hàng tại NHNN Việt Nam.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Giỏi.