UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI Số: 54/BC-UBTVQH14 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2016 |
BÁO CÁO
Tiếp thu, giải trình về đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2016, dự toán ngân sách nhà nước năm 2017 và Dự thảo Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2017
Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội
Trong các ngày 22/10 và 01/11/2016, các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã thảo luận tại Tổ và tại Hội trường về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2016, dự toán NSNN và phương án phân bổ ngân sách trung ương (NSTW) năm 2017. Tiếp đó, ngày 10/11/2016, Ủy ban Tài chính - Ngân sách đã gửi xin ý kiến các vị ĐBQH về nội dung này. Trên cơ sở ý kiến của các vị ĐBQH, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo Ủy ban Tài chính - Ngân sách phối hợp với Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và cơ quan hữu quan của Chính phủ tiếp thu và hoàn thiện Dự thảo Nghị quyết về dự toán NSNN năm 2017. UBTVQH xin báo cáo tiếp thu, giải trình một số vấn đề chính như sau:
I. VỀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NSNN NĂM 2016
(1) Một số ý kiến ĐBQH đề nghị báo cáo cụ thể hơn về tình hình nợ đọng thuế; đề nghị tăng cường công tác quản lý, đôn đốc thu thuế, đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh.
UBTVQH xin báo cáo như sau:
Tại thời điểm ngày 30/9/2016, tổng số tiền nợ thuế nội địa khoảng 74,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,3% (245 tỷ đồng) so với thời điểm 31/12/20151. Mặc dù công tác quản lý nợ thuế đã đạt được một số kết quả tích cực, số nợ thuế thu hồi ở một số địa phương đến ngày 30/9/2016 đã giảm, nhưng số nợ thuế tuyệt đối vẫn còn cao, đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh, nguyên nhân do một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán, không có khả năng nộp thuế. Bên cạnh đó, một bộ phận người nộp thuế chưa chấp hành tốt các quy định của pháp luật về thuế, chây ỳ, không nộp thuế đúng hạn, nợ thuế kéo dài, cơ quan thuế xử phạt, tính tiền chậm nộp dẫn đến khoản tiền phạt chậm nộp tăng lên.
Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn bằng các biện pháp mạnh mẽ để khắc phục tình trạng trốn thuế, chây ỳ, nợ thuế, có biện pháp xử lý kịp thời, kiên quyết và nghiêm minh đối với các doanh nghiệp nợ thuế kéo dài trong nhiều năm; Tổ chức kiểm tra chuyên sâu theo lĩnh vực trọng điểm và các mặt hàng nhạy cảm (sử dụng hóa đơn, chuyển nhượng vốn, hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ ăn uống...); Kiểm tra chặt chẽ hoạt động công vụ trong thanh tra, kiểm tra thuế; kiên quyết xử lý các hành vi tiêu cực, các trường hợp gây phiền hà, sách nhiễu với doanh nghiệp.
(2) Một số ý kiến ĐBQH đề nghị báo cáo việc bán cổ phần nhà nước tại các doanh nghiệp, với tiến độ chậm trong 9 tháng đầu năm thì cả năm có đạt kế hoạch đề ra không. Đồng thời, đề nghị giải trình nguyên nhân thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt thấp.
UBTVQH xin báo cáo như sau:
- Về thu từ bán cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp: Theo báo cáo của Chính phủ, thu từ bán cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp trong 9 tháng mới thực hiện được 10.000 tỷ đồng là chậm. Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đề nghị Chính phủ tập trung đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại, cổ phần hóa DNNN, thoái vốn đầu tư, để đảm bảo thu đủ 30 nghìn tỷ đồng vào NSNN theo Nghị quyết Quốc hội nhằm đảm bảo khả năng cân đối chi đầu tư phát triển của NSTW.
- Về thu từ khu vực DNNN: Dự toán là 256,3 nghìn tỷ đồng; thực hiện thu 10 tháng ước đạt 176,4 nghìn tỷ đồng, bằng 68,8% dự toán, giảm 1,8% so cùng kỳ 2015. Ước cả năm đạt 239,95 nghìn tỷ đồng, bằng 93,6% dự toán. Nguyên nhân thu không đạt dự toán chủ yếu do:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch, trong đó có khu vực DNNN đã có tác động làm giảm nguồn thu NSNN và thu NSNN trong khu vực DNNN.
Thứ hai, hoạt động sản xuất - kinh doanh một số ngành trọng điểm gặp khó khăn như: Giảm thu từ ngành dầu, khí do giá dầu, khí giảm2; Giảm thu từ các doanh nghiệp thủy điện do hạn hán diện rộng, kéo dài trên địa bàn các tỉnh khu vực Miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ3; Giảm thu từ ngành than do giá than giảm, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn4; Một số ngành gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, giá bán, nên doanh thu tăng thấp, có ngành còn giảm, không đạt được mức tăng trưởng như: ngành cao su, hóa chất, dệt may, da giày, thủy sản, sắt, thép, thuốc lá,... cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả thực hiện nhiệm vụ thu NSNN của khu vực DNNN.
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan nêu trên, UBTVQH cho rằng, còn có nguyên nhân chủ quan trong công tác quản trị và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Đề nghị Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh Đề án cơ cấu lại DNNN, rà soát, đổi mới công tác quản lý nhằm tăng hiệu quả hoạt động làm tăng nguồn thu từ khu vực này.
(3) Nhiều ý kiến ĐBQH cho rằng, cần giải trình rõ nguyên nhân giải ngân chậm và phân bổ vốn ODA, vốn TPCP, vốn NSNN không đúng thời gian quy định.
UBTVQH xin báo cáo, giải trình , tiếp thu như sau:
(i) Đối với giải ngân vốn ODA:
Đúng như các vị ĐBQH đã nêu, tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA rất chậm, đến hết tháng 5/2016 mới chỉ giải ngân đạt 36,1% kế hoạch, nhiều bộ, ngành, địa phương có tỷ lệ giải ngân rất thấp hoặc chưa giải ngân. Nguyên nhân là do còn lúng túng trong hướng dẫn triển khai một số quy định mới của Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công; công tác giải phóng mặt bằng còn chậm; năng lực một số Ban quản lý dự án còn hạn chế; một số dự án có vốn đối ứng không đáp ứng đủ nhu cầu. Xác định rõ tồn tại, vướng mắc nêu trên, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, tháo gỡ khó khăn. Lũy kế 10 tháng ước giải ngân là 37,7 nghìn tỷ đồng, đạt 78,4% dự toán, trong đó: các bộ, ngành trung ương đạt 80% dự toán là một cố gắng đáng được ghi nhận.
Tiếp thu ý kiến các vị ĐBQH, để đẩy nhanh tiến độ giải ngân trong những tháng cuối năm, UBTVQH đề nghị Chính phủ khẩn trương giao nốt số vốn ngoài nước (1.300 tỷ đồng) theo dự toán được Quốc hội quyết định cho các bộ, ngành trung ương và địa phương; Căn cứ vào kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm (2016-2020) đã được Quốc hội phê chuẩn, tiến hành rà soát, điều hòa, bố trí vốn hợp lý theo tiến độ cho các dự án nằm trong kế hoạch được phê duyệt, đồng thời, tháo gỡ các khó khăn về cơ chế, giải phóng mặt bằng, năng lực quản lý để đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án sử dụng vốn ODA, chủ động rà soát, xây dựng phương án điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các dự án.
(ii) Đối với giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước, UBTVQH cho rằng, tiến độ giải ngân đạt thấp so với dự toán và so với cùng kỳ năm 2015, ngoài các nguyên nhân như trên, còn do:
- Công tác giao vốn kế hoạch chậm, kéo dài nhiều đợt (ngày 12/5/2016 giao đợt 2; ngày 30/8/2016 giao đợt 3), dẫn đến các bộ, ngành, địa phương không chủ động trong việc triển khai kế hoạch và giải ngân vốn của dự án.
-Việc phân cấp trong đầu tư còn nhiều bất cập, chưa thật sự giao quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định nguồn vốn kế hoạch cho từng bộ, ngành, địa phương. Các quy định còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt.
Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đề nghị Chính phủ tập trung chỉ đạo, khẩn trương giao hết phần vốn kế hoạch năm 2016 còn lại; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án, và thanh toán kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2016; thường xuyên báo cáo tiến độ giải ngân theo quy định; Thực hiện điều chuyển vốn kế hoạch giữa các công trình, dự án có tiến độ giải ngân chậm sang các công trình, dự án có khối lượng hoàn thành nhưng thiếu vốn một cách linh hoạt, hạn chế chuyển nguồn sang năm sau.
II. VỀ DỰ TOÁN NSNN NĂM 2017
(1) Nhiều ý kiến ĐBQH cho rằng, mức dự toán thu nội địa là cao, đề nghị Chính phủ cân nhắc để đảm bảo tính khả thi.
UBTVQH xin báo cáo như sau:
Dự toán thu nội địa năm 2017 là 990,280 nghìn tỷ đồng. Nếu so sánh đơn thuần thì tăng khoảng 19,5% so với ước thực hiện năm 2016. Tuy nhiên, năm 2017 là năm đầu tiên thực hiện Luật NSNN năm 2015, do đó phát sinh một số khoản thu mới đưa vào cân đối ngân sách (như: XSKT, phí đảm bảo hàng hải, phí sử dụng đường bộ,…) và một số khoản thu đặc thù (như: bán bớt phần vốn Nhà nước tại một số doanh nghiệp,…); nếu loại trừ các khoản thu này, thì chỉ tăng khoảng 14% so với ước thực hiện năm 2016. So sánh với tốc độ tăng thu nội địa bình quân giai đoạn 2011-2016 (khoảng 13-15%/năm) và với quyết tâm phấn đấu ở mức cao của các bộ, ngành, địa phương, dự toán thu nội địa nêu trên sẽ khả thi, góp phần đảm bảo nhu cầu chi tăng rất cao từ năm 2017.
Vì vậy, xin Quốc hội cho giữ mức thu nội địa như Chính phủ đề xuất.
(2) Có ý kiến ĐBQH đề nghị Chính phủ báo cáo số liệu chi đầu tư phát triển 357 nghìn tỷ đồng là cao hay thấp, đã đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển hay chưa, và có trong kế hoạch đầu tư công trung hạn không.
UBTVQH xin báo cáo như sau:
Dự toán NSNN năm 2017 Chính phủ báo cáo Quốc hội bố trí chi ĐTPT là 357 nghìn tỷ đồng, tăng 2,9% so với cùng mặt bằng năm 2016, chiếm 25,7% tổng chi NSNN, mức chi này là phù hợp với định hướng bố trí vốn trong Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia 2016-2020 đã được Quốc hội phê duyệt và cũng nằm trong Kế hoạch đầu tư công. Mức bố trí này cũng phù hợp với bối cảnh thu NSNN, nhất là thu NSTW năm 2017 khó khăn, bội chi NSNN phải giảm so với dự toán năm 2016 để đảm bảo an toàn nợ công. Theo đó dự toán chi cho phép tăng không nhiều so với năm 2016, trong khi phải bố trí đảm bảo trả đủ các khoản nợ lãi theo qui định, dành nguồn để điều chỉnh mức lương cơ sở, chi thường xuyên bố trí tiết kiệm.
Do vậy, xin Quốc hội chấp nhận cho giữ mức bố trí này.
(3) Một số ý kiến ĐBQH đề nghị báo cáo rõ bội chi của ngân sách địa phương, khả năng vay và trả nợ của địa phương.
UBTVQH xin báo cáo, giải trình như sau:
(i) Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật NSNN năm 2002, địa phương được phép huy động vốn để tăng nguồn đầu tư XDCB và có trách nhiệm trả nợ cả gốc và lãi.
(ii) Đến nay, Luật NSNN năm 2015 quy định NSĐP cấp tỉnh được phép bội chi để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn. Bội chi NSĐP được tổng hợp vào bội chi NSNN và do Quốc hội quyết định hàng năm. Căn cứ vào quy định của Luật NSNN năm 2015, Chính phủ đã có văn bản hướng dẫn cụ thể các địa phương về việc vay, trả nợ và bội chi NSĐP năm 2017. Trên cơ sở tổng hợp đề xuất của các địa phương và để trần nợ công không vượt ngưỡng, Chính phủ đã trình Quốc hội mức bội chi NSĐP là 6.000 tỷ đồng5. Mức bội chi này sẽ tạo điều kiện cho các địa phương có điều kiện thu hút bổ sung vốn đầu tư phát triển. Đồng thời, các địa phương phải có trách nhiệm cân đối nguồn lực để trả nợ gốc và lãi từ nguồn cân đối, từ nguồn tăng thu, từ kết dư ngân sách và vay nợ mới để trả nợ cũ.
(4) Có ý kiến đề nghị báo cáo rõ hơn về chi trả nợ gốc, trả nợ lãi trong năm 2017 theo quy định của Luật NSNN năm 2015, nguyên nhân chi trả nợ (bao gồm cả nợ gốc và lãi) tăng cao so với năm trước; Đề nghị báo cáo rõ tổng mức vay của NSNN theo Điều 5 của Luật NSNN năm 2015.
UBTVQH xin báo cáo như sau:
Theo quy định của Luật NSNN năm 2015, chi cân đối NSNN không bao gồm số chi trả nợ gốc. Nguồn chi trả nợ gốc sẽ được sử dụng từ số tăng thu, tiết kiệm chi, kết dư, bội thu và cuối cùng là dùng nguồn vay để trả nợ gốc.
Đúng như các vị ĐBQH đã nêu, số liệu trả nợ năm 2017 phản ánh trong dự toán năm 2017 là 340.157 tỷ đồng, bao gồm: huy động để trả nợ gốc NSNN khoảng 156,5 nghìn tỷ đồng và huy động để bù đắp bội chi khoảng 183,6 nghìn tỷ đồng6, cao hơn mức năm 2016 (254.000 tỷ đồng). Nguyên nhân là do nghĩa vụ trả nợ phải trả và mức bội chi phải bù đắp để đáp ứng nhu cầu chi của NSNN.
Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đề nghị Chính phủ trong thời gian tới cần rà soát, tính toán chính xác số liệu nợ công, xác định nhu cầu chi trả nợ, đảm bảo tăng chi trả nợ trực tiếp của NSTW để thanh toán các khoản nợ (cả gốc và lãi) đến hạn, giảm mạnh tỷ lệ vay đảo nợ hàng năm. Phấn đấu mỗi năm giảm 1 tỷ lệ nhất định về tỷ lệ bội chi NSNN và tỷ lệ nợ công để đạt mục tiêu cơ bản vào năm 2020 của kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia 2016-2020.
(5) Có ý kiến đề nghị thực hiện tăng mức lương cơ sở cao hơn mức 7% như đề xuất của Chính phủ để góp phần nâng mức thu nhập của người hưởng lương.
Về vấn đề này, UBTVQH xin giải trình như sau:
Đúng như các vị ĐBQH đã nêu, đời sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, người hưởng lương còn gặp khó khăn, vì vậy Chính phủ đề nghị tăng mức lương cơ sở từ 1,21 triệu đồng/tháng lên mức 1,3 triệu đồng/tháng để giảm bớt khó khăn cho các đối tượng này. Mặc dù mức tăng này chưa đáp ứng được toàn bộ nhu cầu nhưng trong điều kiện ngân sách gặp rất nhiều khó khăn như hiện nay, với mức tăng như trên, ngoài việc yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phải tự bố trí sắp xếp cân đối nguồn, NSTW phải chi khoảng 6.600 tỷ đồng, nếu tính cả 1.900 tỷ đồng hỗ trợ 50% nhu cầu tăng lương của lực lượng vũ trang thì NSTW phải chi khoảng 8.500 tỷ đồng. Đây là một cố gắng rất lớn của Chính phủ trong thời điểm hiện nay. Vì vậy, UBTVQH xin Quốc hội cho giữ như phương án Chính phủ trình.
(6) Một số ý kiến đề nghị Chính phủ rà soát đánh giá đầy đủ số liệu về nợ đọng XDCB, đồng thời xây dựng phương án thanh toán nợ cụ thể bảo đảm không có sự chênh lệch về thanh toán nợ quá lớn giữa các địa phương.
Về vấn đề này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có ý kiến như sau: Số nợ đọng XDCB trong các năm qua tuy có giảm do Chính phủ đã ưu tiên phân bổ thanh toán theo kế hoạch hàng năm. Song đúng như ý kiến nhiều đại biểu đã nêu thực tế số nợ đọng XDCB còn cao, điều này cho thấy công tác quản lý đầu tư xây dựng chưa chặt chẽ, việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án và bố trí vốn có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương trong thanh toán nợ đọng XDCB.
Tiếp thu ý kiến các vị Đại biểu Quốc hội, UBTVQH đề nghị Chính phủ xây dựng báo cáo chi tiết kế hoạch thanh toán nợ XDCB cho từng dự án cụ thể báo cáo UBTVQH trong phiên họp gần nhất, bảo đảm công khai, minh bạch. Đồng thời, quy định chế tài xử lý nghiêm đối với người đứng đầu cơ quan đơn vị cố tình chây ỳ không thực hiện theo đúng kế hoạch đã được Quốc hội đề ra.
(7) Có ý kiến đề nghị bố trí vốn tăng cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
UBTVQH xin báo cáo giải trình như sau:
Việc bố trí vốn đầu tư trung hạn cho các chương trình mục tiêu quốc gia trong 5 năm tới đã được Quốc hội phê chuẩn, Chính phủ dự kiến bố trí năm 2017 là 6.000 tỷ đồng, trước mắt phân bổ 5.400 tỷ đồng (chưa bao gồm 10% dự phòng). Việc đầu tư xây dựng nông thôn mới là cả một quá trình, do đó cần được tính toán và có lộ trình cụ thể, trên cơ sở đó ưu tiên hỗ trợ vốn cho chương trình một cách phù hợp với từng giai đoạn. UBTVQH cho rằng, năm 2017 Chính phủ xây dựng phương án bố trí 6.000 tỷ đồng cho chương trình này là hợp lý, vì vậy, đề nghị Chính phủ tiếp tục tính toán, trong trường hợp tăng thu NSNN, cân đối bố trí tăng vốn cho chương trình này trong các năm tiếp theo.
(8) Về kiến nghị các giải pháp điều hành NSNN năm 2017
Trên cơ sở nhiều ý kiến xác đáng của ĐBQH về các giải pháp điều hành NSNN năm 2017 như: Xử lý tốt nợ đọng thuế, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật tài chính; triệt để tiết kiệm chi tiêu; cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết; tăng cường hơn nữa công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra; thống kê đầy đủ, chính xác các khoản nợ công, giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay... UBTVQH đã chỉ đạo tiếp thu và quy định tại Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về dự toán NSNN năm 2017 và yêu cầu Chính phủ tổ chức thực hiện tích cực, hiệu quả hơn các giải pháp này.
(9) Về kỹ thuật văn bản
Ngoài những nội dung chính nêu trên, một số ĐBQH góp ý về từ ngữ, kỹ thuật văn bản, UBTVQH đã chỉ đạo tiếp thu hợp lý và thể hiện trong Dự thảo Nghị quyết về dự toán NSNN năm 2017 trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Trên đây là Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến các vị ĐBQH về đánh giá tình hình thực hiện NSNN năm 2016, dự toán NSNN năm 2017 và Dự thảo Nghị quyết về dự toán NSNN năm 2017. Kính trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Nơi nhận: - Như trên; - Lưu: HC, TCNS; - E-pas: 80484 |
TM. UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Phùng Quốc Hiển |