ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI Số: 134/BC-UBTVQH14 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2017 |
BÁO CÁO
giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng
Thực hiện Chương trình kỳ họp, dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) đã được Quốc hội thảo luận tại Tổ và Hội trường. Trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Cơ quan chủ trì thẩm tra, Cơ quan soạn thảo lấy ý kiến một số cơ quan hữu quan (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an) để nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội như sau:
1. Về tính pháp lý của dự thảo Nghị quyết
- Một số ý kiến đề nghị làm rõ tính pháp lý của Nghị quyết vì có một số quy định khác với các luật hiện hành cũng mới được Quốc hội thông qua gần đây như Bộ luật dân sự 2015, Luật thi hành án dân sự...
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Việc xử lý nợ xấu thời gian qua gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao do vướng mắc về pháp lý, có những vấn đề pháp luật chưa có quy định hoặc đã có quy định nhưng chưa đủ mạnh để giải quyết nợ xấu. Khoản 2 Điều 15 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định nghị quyết được ban hành để thí điểm các chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành. Như vậy, việc ban hành Nghị quyết là có cơ sở pháp lý, bảo đảm tính hợp hiến.
2. Về tên gọi, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Có ý kiến cho rằng chi nhánh ngân hàng nước ngoài không phải là TCTD, vì vậy cần sửa tên Nghị quyết cho phù hợp.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Đúng như ý kiến đại biểu Quốc hội đã nêu, theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài là hai đối tượng riêng. Tuy nhiên, để bảo đảm tính đồng bộ trong xử lý nợ xấu như phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết, xin Quốc hội được giữ như dự thảo.
- Có ý kiến cho rằng, ngân hàng chính sách có tính đặc thù, phục vụ cho đối tượng chính sách (cho vay tín chấp, do các tổ chức đoàn thể xã hội bảo đảm để cho các đối tượng chính sách vay) thì phải có quy định riêng để xử lý tài sản, do vậy cân nhắc việc áp dụng theo Nghị quyết này.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Trong thực tiễn, loại hình ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam) cũng có các khoản nợ xấu cần xử lý, do đó ngân hàng chính sách cũng cần được áp dụng các quy định tại Nghị quyết này để xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.
- Có ý kiến đề nghị bổ sung đối tượng thực hiện bao gồm cả quỹ đầu tư phát triển địa phương.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết chỉ tập trung vào mục tiêu là xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD theo chủ trương, chính sách đã được đề ra trong các nghị quyết của Đảng và Quốc hội. Hiện nay, hoạt động của các quỹ đầu tư phát triển địa phương chưa được đánh giá tổng kết. Các quỹ này hoạt động theo cơ chế riêng, không thuộc đối tượng áp dụng của Luật các TCTD, tập trung vào tín dụng chính sách, quy mô hoạt động cho vay nhỏ. Do đó, để xây dựng các chính sách khả thi, hiệu quả cho hoạt động của các quỹ này thì cần có thời gian để tổng kết, nghiên cứu, đề xuất các chính sách, giải pháp phù hợp với hoạt động của các quỹ này. Tuy nhiên, các quỹ đầu tư phát triển vẫn có thể tham gia quá trình xử lý nợ xấu như một bên tham gia mua nợ xấu theo Nghị quyết này.
- Một số ý kiến đề nghị chỉ áp dụng đối với các khoản nợ xấu phát sinh do nguyên nhân khách quan.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: nợ xấu cao do bất kỳ nguyên nhân nào đều ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế và cần sớm xử lý để đưa nợ xấu về mức bình thường theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Để xác định các nguyên nhân xảy ra nợ xấu là do chủ quan hay khách quan cần phải thông qua hoạt động thanh tra, điều tra đối với từng trường hợp cụ thể. Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật gây ra nợ xấu hiện đã được pháp luật quy định đầy đủ và đã được bổ sung trong nguyên tắc xử lý nợ xấu quy định tại Điều 3 dự thảo Nghị quyết. Việc áp dụng các quy định tại Nghị quyết này để xử lý nợ xấu không làm thay đổi trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức có liên quan.
3. Về nguyên tắc xử lý nợ xấu (Điều 3)
Nhiều ý kiến đề nghị bổ sung thêm nguyên tắc không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu; các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Có ý kiến đề nghị bổ sung nguyên tắc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan ngoài chủ nợ và người gửi tiền.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, bổ sung về các nguyên tắc này tại Điều 3 của dự thảo Nghị quyết. Ngoài ra, dự thảo Nghị quyết chỉ quy định các nguyên tắc có liên quan đến các chủ thể trực tiếp trong xử lý nợ xấu, việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan được thể hiện cụ thể trong các điều của dự thảo Nghị quyết.
4. Về khái niệm nợ xấu (Điều 4)
Nhiều ý kiến đề nghị cần quy định cụ thể trong dự thảo Nghị quyết về nguyên tắc và phương pháp xác định nợ xấu bảo đảm rõ ràng, dễ hiểu hoặc đưa vào Phụ lục mà không ủy quyền cho NHNN xác định.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, chỉnh lý khoản 1 Điều 4 và bổ sung Phụ lục về xác định nợ xấu đính kèm Nghị quyết để bảo đảm rõ ràng, minh bạch; bổ sung quy định về thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, sửa đổi Phụ lục này theo đề nghị của Chính phủ.
- Một số ý kiến đề nghị chỉ áp dụng đối với khoản nợ xấu trước thời điểm 31/12/2016. Một số ý kiến đề nghị cho phép xử lý các khoản nợ phát sinh trong thời hạn thực hiện của Nghị quyết để bảo đảm đồng bộ trong việc thực hiện chính sách xử lý nợ xấu.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội theo 2 phương án thể hiện như trong dự thảo Nghị quyết để xem xét, quyết định.
5. Về phương thức bán nợ xấu theo giá thị trường (Điều 5)
Một số ý kiến đề nghị việc bán nợ xấu thấp hơn giá trị ghi sổ của khoản nợ nên thực hiện theo phương thức đấu giá để bảo đảm công khai minh bạch.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu và báo cáo như sau: Khoản 1 Điều 306 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm; trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản. Như vậy, việc cho phép áp dụng các phương thức khác nhau trong xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác (như Luật Đấu giá tài sản) sẽ bảo đảm hiệu quả xử lý nợ xấu nhanh với chi phí xử lý phù hợp. Do vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH về bảo đảm công khai, minh bạch, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin chỉnh lý Điều 5 dự thảo Nghị quyết như sau: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được quyền bán nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật; giá bán phù hợp với giá thị trường, có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị ghi sổ của khoản nợ”.
6. Về thu giữ tài sản bảo đảm trong trường hợp có tranh chấp (Điều 7)
- Một số ý kiến đề nghị quy định rõ trường hợp thu giữ tài sản bảo đảm, nếu có tranh chấp, liên quan tố tụng thì thực hiện qua Tòa án. Cần làm rõ phạm vi tranh chấp trong dự thảo Nghị quyết.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, bổ sung tại khoản 8 Điều 7 như sau: "Việc thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều này chỉ thực hiện đối với tài sản bảo đảm không có tranh chấp, không đang bị kê biên trong vụ án hình sự”. Việc xác định phạm vi tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự, tố tụng dân sự.
- Một số ý kiến đề nghị cần quy định chặt chẽ để việc thu giữ tài sản bảo đảm không ảnh hưởng đến quy định của Hiến pháp về quyền công dân, quyền nhà ở của công dân; công khai minh bạch thông tin về thu giữ tài sản, kéo dài thời gian thông báo về việc thu giữ, quy định phù hợp về thẩm quyền của UBND và Công an cấp xã.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Điều 22 Hiến pháp quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do luật định”. Theo quy định tại Nghị quyết, việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện đã có tại hợp đồng bảo đảm giữa các bên. Như vậy, việc TCTD thu giữ tài sản bảo đảm là nhà ở của người bảo đảm hoặc người giữ tài sản bảo đảm (chủ nhà) về nguyên tắc đã được người bảo đảm hoặc người giữ tài sản bảo đảm (chủ nhà) đồng ý theo thỏa thuận thu giữ tại hợp đồng bảo đảm đã ký. Do vậy, việc thực hiện các quyền này không xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở theo quy định tại Hiến pháp.
Tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo chỉnh lý Điều 7 theo hướng minh bạch thông tin việc thu giữ, đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu. Đồng thời, quy định phù hợp hơn về thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Công an, kéo dài thời gian thông báo để người có tài sản bị thu giữ có thêm thời gian sắp xếp việc chuyển giao tài sản bảo đảm và sắp xếp chỗ ở cho những người liên quan nếu thu giữ tài sản bảo đảm là nhà ở.
- Có ý kiến đề nghị làm rõ quy định về thu giữ tài sản bảo đảm để bảo đảm quyền của một số cá nhân, tổ chức khác cùng nhận hoặc những người cùng sở hữu tài sản bảo đảm.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Theo quy định tại khoản 2 Điều 212 Bộ luật Dân sự về sở hữu chung của các thành viên gia đình và Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 về sở hữu chung của vợ chồng thì việc định đoạt tài sản chung đều phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên. Do vậy, ngay từ khâu nhận tài sản bảo đảm là sở hữu chung thì việc nhận tài sản bảo đảm đã phải được sự đồng ý của tất cả đồng sở hữu. Bên bảo đảm (các đồng sở hữu) đã thỏa thuận, đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản bảo đảm nên việc thu giữ tài sản bảo đảm là hoàn toàn hợp pháp, không vi phạm quyền của các đồng sở hữu. Trường hợp có tranh chấp, dự thảo Nghị quyết quy định việc giải quyết tranh chấp thực hiện qua Tòa án theo thủ tục rút gọn.
Trường hợp tài sản bảo đảm dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ (nhiều người), khoản 3 Điều 296 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản. Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác”. Do đó, trường hợp tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và các bên nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản bảo đảm, việc thu giữ tài sản bảo đảm chỉ áp dụng nếu giao dịch bảo đảm thỏa mãn điều kiện quy định tại Điều 7 dự thảo Nghị quyết. Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm được quy định tại Điều 308 Bộ luật Dân sự1.
- Có ý kiến đề nghị quy định TCTD và VAMC cần trực tiếp thu giữ tài sản bảo đảm mà không được ủy quyền hoặc thuê các công ty dịch vụ đòi nợ.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, thể hiện theo hướng bên cạnh việc tự thực hiện thu giữ, TCTD chỉ ủy quyền việc thu giữ tài sản bảo đảm cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD đó tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho TCTD bán nợ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD bán nợ.
7. Về áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án (Điều 8)
- Có ý kiến đề nghị quy định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án đối với bên liên quan có yếu tố nước ngoài.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu và báo cáo như sau: Việc quy định áp dụng thủ tục rút gọn đối với bên liên quan có yếu tố nước ngoài đã được quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, xin bổ sung nội dung này tại điểm c khoản 1 Điều 8 dự thảo Nghị quyết phù hợp với Bộ luật tố tụng dân sự.
- Một số ý kiến đề nghị cần giao Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện quy định về thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, bổ sung tại khoản 2 Điều 8 của dự thảo Nghị quyết, các trường hợp cụ thể trong áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án sẽ được hướng dẫn cụ thể, phù hợp với thực tế phát sinh.
- Có ý kiến đề nghị bổ sung 01 điều kiện tại khoản 1 Điều 8 để áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm là “tài sản bảo đảm chỉ được sử dụng để bảo đảm duy nhất cho khoản nợ xấu”.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Dự thảo Nghị quyết quy định điều kiện đầu tiên để áp dụng thủ tục rút gọn là “giao dịch bảo đảm, biện pháp bảo đảm đã đăng ký theo quy định của pháp luật”, theo đó các chủ thể nhận cùng là bên nhận bảo đảm đối với tài sản thì đã biết rõ tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm đó, nên áp dụng được thủ tục rút gọn. Bên cạnh đó, các nguyên tắc xử lý một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.
8. Về xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản (Điều 10)
Một số ý kiến cho rằng dự án bất động sản chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không được thế chấp, chỉ nên cho phép bán dự án bất động sản đủ điều kiện.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Pháp luật hiện hành cho phép thế chấp, nhận thế chấp tài sản hình thành trong tương lai. Theo quy định tại Điều 148 của Luật Nhà ở năm 2015, VAMC và TCTD được nhận thế chấp dự án bất động sản khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi khách hàng không trả được nợ, về nguyên tắc, VAMC và TCTD được quyền xử lý tài sản bảo đảm đã nhận thế chấp hợp pháp. Việc chuyển nhượng các dự án bất động sản sẽ góp phần mang lại hiệu quả cho nền kinh tế. Do vậy, nếu yêu cầu VAMC,TCTD đáp ứng đầy đủ điều kiện chuyển nhượng dự án bất động sản theo khoản 1 và khoản 2 Điều 49 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 thì VAMC và TCTD không thể xử lý, chuyển nhượng nhiều khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là dự án bất động sản hoặc tài sản hình thành trong tương lai chưa hoàn thành “công trình hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ ghi trong dự án đã được phê duyệt” hoặc chủ đầu tư chưa có Giấy chứng nhận “quyền sử dụng đất đối với toàn bộ hoặc phần dự án chuyển nhượng”. Việc quy định như dự thảo Nghị quyết là phù hợp và cần thiết để tăng hiệu quả xử lý nợ xấu, góp phần thu hồi tối đa giá trị tài sản bảo đảm, xử lý tình trạng dự án treo, bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là người mua nhà tại dự án bất động sản.
9. Về kê biên tài sản bảo đảm của bên phải thi hành án (Điều 11)
Có ý kiến cho rằng, quy định như dự thảo Nghị quyết là bất bình đẳng do cùng một tài sản có nhiều con nợ, TCTD chỉ là một chủ nợ, trong khi TCTD được quyền xử lý, các chủ nợ khác thì không có quyền này, quy định này còn làm vô hiệu bản án của Tòa án.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Quy định như dự thảo Nghị quyết là để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên liên quan. Về nguyên tắc, nghĩa vụ có bảo đảm là nghĩa vụ được ưu tiên thanh toán trước các nghĩa vụ không có bảo đảm. Việc kê biên tài sản có thể ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của tất cả các bên, đặc biệt trong trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản hình thành từ vốn vay hoặc là nguồn thu nhập chính để trả nợ cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài2. Nếu tài sản bảo đảm nào cũng có thể bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ thi hành bản án khác thì sẽ mất đi ý nghĩa là “tài sản bảo đảm” thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay. Việc áp dụng quy định tại Điều này không làm vô hiệu bản án của Tòa án đã tuyên trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
10. Về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm (Điều 12)
- Một số ý kiến cho rằng quy định này có lợi cho TCTD, trong khi quyền lợi của nhà nước (thuế, bảo hiểm xã hội) và các bên liên quan (chủ nợ khác, công nhân bị nợ lương...) bị ảnh hưởng, đề nghị cần quy định theo hướng có tỷ lệ phân chia để hài hòa lợi ích các bên.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Việc thanh toán nghĩa vụ thuế chỉ thực hiện sau khi số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm nhằm đảm bảo quyền hợp pháp của chủ nợ có bảo đảm của TCTD. Quy định này không miễn thuế cho bên có nghĩa vụ nộp thuế.
Liên quan đến các chủ nợ khác, dự thảo Nghị quyết quy định rõ nguyên tắc trường hợp có nhiều bên nhận bảo đảm cùng nhận một tài sản bảo đảm thì thứ tự ưu tiên giữa các bên nhận bảo đảm này thực hiện theo quy định của pháp luật. Nếu cùng là các chủ nợ có bảo đảm thì thứ tự ưu tiên giữa các bên bảo đảm thực hiện theo Điều 308 Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp các chủ nợ bao gồm chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ không có bảo đảm thì chủ nợ có bảo đảm phải được ưu tiên thanh toán trước.
Liên quan đến thứ tự ưu tiên, Điều 53 và Điều 54 Luật Phá sản năm 2014 quy định khoản nợ có tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản gồm chi phí phá sản; khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết; khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Do đó, quy định tại Nghị quyết phù hợp với Luật Phá sản.
- Có ý kiến đề nghị cần bổ sung quy định về trường hợp xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp còn nợ thuế hay thế chấp ở nhiều TCTD.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Quy định tại khoản 1 Điều 12 dự thảo Nghị quyết quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm giữa nghĩa vụ có bảo đảm và nghĩa vụ thuế (bao gồm cả nghĩa vụ thuế còn nợ và thuế sẽ phát sinh). Việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế đã quy định tại Chương XI Luật quản lý thuế và văn bản hướng dẫn. Bên cạnh đó, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm trong trường hợp tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ quy định tại Điều 308 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, các nội dung này không cần phải quy định trong dự thảo Nghị quyết.
11. Về bán nợ có tài sản bảo đảm đang bị kê biên (Điều 13)
Có ý kiến đề nghị làm rõ các cơ quan thực hiện kê biên tài sản, cần quy định kể từ ngày mua thì tài sản bảo đảm phải được chuyển quyền cho các tổ chức, cá nhân mua khoản nợ xấu để người mua yên tâm.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo: Quy định tại Điều này bao gồm mọi trường hợp kê biên không phân biệt cơ quan thực hiện kê biên, thẩm quyền cơ quan thực hiện kê biên tài sản đã được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành. Nghị định chỉ quy định về quyền của TCTD được bán khoản nợ xấu mà khoản nợ xấu đó có tài sản bảo đảm đang bị kê biên, nghĩa vụ bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua đã được quy định tại Điều 450 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật có liên quan.
12. Về hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng (Điều 14)
Có ý kiến đề nghị việc hoàn trả vật chứng cần có phán quyết của cơ quan tố tụng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu và báo cáo như sau: Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành đã quy định về trả lại vật chứng3. Tuy nhiên, quy định hiện hành chỉ trả lại vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp mà chưa quy định về việc hoàn trả vật chứng cho TCTD khi vật chứng này đang được bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tại TCTD. Việc không quy định về việc hoàn trả tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm sau khi cơ quan tiến hành tố tụng hoàn tất quy trình xác định tài sản bảo đảm là chứng cứ hay không phải chứng cứ của vụ án hình sự đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền xử lý tài sản bảo đảm của TCTD cũng như kéo dài thời gian xử lý, tăng chi phí, giảm số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của TCTD.
Để bảo đảm tính chặt chẽ, không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và quy định trách nhiệm của bên nhận bảo đảm (TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu), Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, chỉnh lý như sau: “Sau khi hoàn tất các thủ tục xác định chứng cứ và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu”.
13. Về thuế, phí (Điều 15)
Nhiều ý kiến đề nghị bỏ quy định miễn thuế, phí để phù hợp với nguyên tắc không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, bỏ khoản 3 và khoản 4 Điều 15 về miễn thuế, phí khi thu hồi nợ xấu. Đồng thời, chỉnh lý lại Điều 15 theo hướng khẳng định rõ trách nhiệm của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế liên quan đến chuyển nhượng tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
14. Về trách nhiệm của các cơ quan (Điều 18)
Nhiều ý kiến đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm giám sát hàng năm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội; quy định trách nhiệm báo cáo hàng năm của Chính phủ; quy định Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể để áp dụng thủ tục rút gọn; bổ sung trách nhiệm của NHNN trong thực hiện các biện pháp để hạn chế nợ xấu; bổ sung trách nhiệm của Bộ Tài nguyên – Môi trường, Bộ Xây dựng; quy định trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho phù hợp với quy định về tài chính, ngân sách.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, chỉnh lý như khoản 2 Điều 8 và Điều 18 của dự thảo Nghị quyết.
15. Về thời hạn của Nghị quyết
Nhiều ý kiến nhất trí với thời gian hiệu lực của Nghị quyết là 5 năm. Một số ý kiến đề nghị Nghị quyết này có hiệu lực trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa 14; một số ý kiến đề nghị thời hạn của Nghị quyết đến năm 2020 để phù hợp với Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu lại nền kinh tế (giai đoạn 2016-2020).
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo: Để bảo đảm cho quá trình triển khai được hiệu quả, Nghị quyết cần có thời gian đủ dài để các chính sách mới được thực thi trong thực tiễn, do đó đề nghị Quốc hội cho phép thời gian hiệu lực của Nghị quyết là 5 năm như đề nghị của Chính phủ.
16. Về các vấn đề khác
- Một số ý kiến đề nghị công khai các TCTD có nợ xấu cao để có các giải pháp cụ thể, cần triển khai các công cụ xử lý nợ xấu theo thông lệ quốc tế như chứng khoán hóa.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: các giải pháp cụ thể đối với các TCTD có nợ xấu cao sẽ được cân nhắc, quyết định trong Đề án cơ cấu lại các TCTD, việc triển khai các công cụ xử lý nợ xấu theo thông lệ cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán; do đó xin không bổ sung trong Nghị quyết và đề nghị Chính phủ lưu ý trong quá trình chỉ đạo, điều hành.
- Một số ý kiến đề nghị cần có cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến thu giữ tài sản.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo như sau: Theo quy định pháp luật hiện hành, cơ chế xử lý khiếu nại thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại tố cáo, pháp luật không nên quy định về khiếu nại trong giao dịch dân sự giữa các bên. Giao dịch giữa TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu là giao dịch dân sự, không có quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước. Do đó, nếu phát sinh tranh chấp thì thực hiện xử lý theo cơ chế xử lý tranh chấp dân sự theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Ngoài những nội dung trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp với Cơ quan soạn thảo và cơ quan hữu quan tiếp thu, chỉnh lý về kỹ thuật văn bản. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin kính trình Quốc hội./.