Hiệp định CPTPP:
Phải biết thực thi khôn ngoan
Trần Hương
Thảo luận về việc phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, đến thời điểm này không nên mất nhiều thời gian để bàn luận về việc có nên thông qua Hiệp định CPTPP, mà quan trọng hơn là phải làm rõ nên hành động như thế nào để có thể tận dụng được những lợi thế và giảm thiểu những tác động bất lợi mà Hiệp định này có thể mang lại đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Cơ hội rộng mở
Theo đại biểu Hoàng Văn Cường (Hà Nội), so sánh 10 mặt hàng chủ đạo với các nước thành viên, Việt Nam đang được xếp vào nhóm thấp nhất về tính cạnh tranh. Ngay cả những mặt hàng được đánh giá là có lợi thế lớn nhất như dệt may, giày da, đồ gỗ… thì cũng chỉ đứng thứ ba; nhóm đồ gia dụng xếp thứ năm; hàng thực phẩm xếp thứ sáu; đặc biệt, các mặt hàng kém cạnh tranh chúng ta đứng gần như “đội sổ”, ví dụ như mỹ phẩm thứ 11, văn phòng phẩm thứ 9, phim ảnh thứ 9, điện, điện tử, vi tính đứng hàng thứ 7.
Do có lợi thế thấp nên chúng ta có ưu đãi hơn khi phải cắt giảm các dòng thuế chậm hơn so với các nước, có thời gian chuyển đổi kéo dài hơn. Theo đó, phần lớn các nước có cam kết cắt giảm tỷ lệ thuế cho hàng hóa Việt Nam rất cao, ví dụ Canada 94%, Chile 95%, Nhật Bản 86%, thấp nhất như Mexico là 77%. Trong khi Việt Nam chỉ phải cắt giảm 66% sau khi hiệp định có hiệu lực và sau 3 năm mới tăng lên 86%, đồng thời có một số mặt hàng chúng ta có thời gian chuyển đổi kéo dài từ 7-10 năm như thịt các loại. “Chúng ta có lợi thế hơn các nước không phải chỉ ở mức các dòng thuế cắt chậm mà chúng ta có thời gian dài hơn để thực hiện quá trình chuyển đổi, cắt giảm dòng thuế cũng như thực hiện cam kết”, ông Cường nhấn mạnh.
Thế nhưng vấn đề là liệu hàng hóa có thể tham gia vào được hay không để được hưởng lợi thế này. Đại biểu Cường cho rằng, muốn tham gia được, rõ ràng hàng hóa cũng phải đảm bảo có sức cạnh tranh, đồng thời phải đủ điều kiện để được tham gia. Một trong những thách thức lớn của hàng hóa Việt Nam hiện nay là quy tắc xuất xứ hàng hóa. Ví như ngành dệt may được cho là ngành có lợi thế, nhưng thực tế nguyên liệu xuất xứ của chúng ta phần lớn không nằm trong khối nên nếu tính tiêu chí về quy tắc xuất xứ, có khả năng nhiều sản phẩm dệt may không thỏa mãn các điều kiện để đưa vào trong khối.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hết sức cấp bách là phải có lộ trình nhanh chóng, sớm chuyển đổi các nguồn nguyên liệu đang nhập từ các nước mà không phải là các quốc gia trong khối để chuyển thành sản xuất nguyên liệu ngay tại trong nước hoặc nhập của các quốc gia trong khối này, khi đó chúng ta mới đảm bảo đủ điều kiện về quy tắc xuất xứ.
Phải biết thực thi khôn ngoan
Đại diện tiếng nói của cộng đồng DN Việt Nam, đại biểu Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì cho rằng, CPTPP là cơ hội đa phương hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi tình trạng phụ thuộc quá lớn của một vài thị trường, bảo đảm sự phát triển tự chủ và bền vững. Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều bất ổn, xung đột và chiến tranh thương mại leo thang thì những cơ hội này càng quý giá...
Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là cơ hội, vấn đề là nắm bắt và tận dụng các cơ hội này thế nào. Bài học từ việc thực thi 10 FTA đang có đã cho thấy rất rõ điều này. Các FTA hứa hẹn mang lại nhiều cơ hội nhưng phần lợi ích thực sự đạt được còn khiêm tốn. Riêng lợi ích từ ưu đãi thuế quan trung bình chỉ tận dụng chưa đầy 40% và chủ yếu thuộc về FDI, hơn 60% còn lại vì nhiều lý do khác nhau đã tuột khỏi DN Việt Nam.
Vì vậy, cùng việc phê chuẩn, đại biểu Vũ Tiến Lộc đề nghị Quốc hội giao nhiệm vụ cho Chính phủ xây dựng và triển khai chương trình hành động bảo đảm thực thi hiệp định có hiệu quả. Chương trình này ít nhất phải đáp ứng 3 yêu cầu cơ bản:
Một là phải bao gồm đầy đủ nhiệm vụ chính sách, pháp luật cần thiết. Không thể chỉ để tuân thủ các cam kết trong hiệp định mà còn để ứng phó với các thách thức và tận dụng các cơ hội mở ra. Ví dụ, để thực hiện cam kết về thuế quan trong Hiệp định, chúng ta đã dự kiến ban hành nghị định về biểu thuế xuất - nhập khẩu ưu đãi, nhưng chúng ta chưa có được dự kiến nào về các chính sách để cân đối, bù đắp nguồn thu ngân sách bị thiếu hụt từ việc loại bỏ thuế theo các cam kết.
Hai là, phải dự kiến được các phương án cụ thể để không chỉ thực thi hiệp định một cách nghiêm túc mà còn phải biết thực thi một cách khôn ngoan, phải biết chủ động vận dụng theo phương châm dĩ bất biến, ứng vạn biến vì lợi ích của DN quốc gia, dân tộc. Chẳng hạn, liên quan đến việc sửa đổi pháp luật, chúng ta đều biết rằng với mỗi cam kết về quy tắc trong hiệp định này có nhiều cách thức để giải thích và để nội luật hóa. Tùy từng vấn đề mà chúng ta có thể giải thích cam kết theo nghĩa hẹp để giảm thiểu các chi phí thực thi quá lớn hoặc theo nghĩa rộng, để tận dụng các lợi thế từ cam kết. Các cam kết về bảo hộ sở hữu trí tuệ, về quyền của các nhà đầu tư, về tạo thuận lợi thương mại đều để ngỏ những khả năng này. Chương trình hành động của Chính phủ vì vậy phải bao gồm 2 việc: Rà soát, xem xét và xây dựng tất cả các phương án để có thể thực thi một cách chủ động các cam kết và phải đánh giá tác động, tham vấn các đối tượng có liên quan để nhận diện, cân, đong, đo, đếm, được các tác động của việc thực thi, cân nhắc được, mất nếu vi phạm cam kết. Chương trình hành động cũng phải tính tới các phương án thực thi theo từng giai đoạn để vừa với sức vươn lên của nền kinh tế và cộng đồng DN, nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ các cam kết.
Ba là, chương trình hành động thực thi hiệp định cần nhấn mạnh công tác tổ chức thực hiện và hỗ trợ các đối tượng chịu tác động, đặc biệt là các DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa, các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Nếu các đối tượng này không được hưởng lợi từ CPTPP thì việc thực thi hiệp định này sẽ là một thất bại.