Đại dịch Covid-19 đã đẩy thế giới lún sâu vào suy thoái trầm trọng, nhiều tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế phải hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Để đối phó với đại dịch, hàng loạt giải pháp chính sách chưa có tiền lệ đã được triển khai một cách khẩn trương, góp phần duy trì dòng tín dụng tới nền kinh tế và tránh rủi ro đảo chiều tài chính vĩ mô, là cầu nối cho phục hồi kinh tế.
Diễn biến thị trường tài chính 2020
Trên toàn cầu, các ngân hàng trung ương (NHTW) đã đồng loạt nới lỏng chính sách tiền tệ. Tính đến cuối quý III/2020, bảng cân đối tài sản tại 10 nước phát triển hàng đầu đã lên tới 7,5 nghìn tỷ USD, nhiều NHTW tại các nước mới nổi cũng bắt đầu áp dụng chương trình mua tài sản. Trong lĩnh vực tài chính, các biện pháp ứng phó với đại dịch nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ gia đình đã lên tới 12 nghìn tỷ USD. Nhìn chung, các biện pháp nới lỏng tài chính - tiền tệ quy mô lớn đã góp phần kiềm chế rủi ro đối với nền kinh tế và hệ thống tài chính.
Từ cuối tháng 3/2020, điều kiện tài chính đã nới lỏng đáng kể, tiếp tục tạo thuận lợi cho các quốc gia và doanh nghiệp trong việc tiếp cận các nguồn tài chính trên thị trường vốn và ngân hàng, giảm thiểu áp lực thanh khoản và nguy cơ phá sản hàng loạt doanh nghiệp. Dòng vốn vào các nước mới nổi bắt đầu phục hồi trở lại, rủi ro mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp và ngân hàng đã được kiềm chế về cơ bản. Trên thực tế, hệ thống ngân hàng toàn cầu vẫn có khả năng tự cân đối nguồn vốn trước tác động của những cú sốc tăng cường trong tương lai gần.
Các giải pháp nới lỏng chính sách tài chính - tiền tệ đã tác động trực tiếp đến thị trường chứng khoán toàn cầu. Một số lĩnh vực bị tác động mạnh của đại dịch (như hàng không, khách sạn, năng lượng, tài chính) do các biện pháp giãn cách xã hội và đóng cửa nền kinh tế. Trong khi đó, một số lĩnh vực chỉ chịu tác động nhẹ, nổi bật là công nghệ thông tin và viễn thông, giá cổ phiếu tại những khu vực này đã phục hồi nhanh chóng.
Các chính sách hỗ trợ là yếu tố cơ bản dẫn đến xu hướng phục hồi thị trường chứng khoán, tiếp theo là cấu trúc trong từng khu vực kinh tế, thành phần các nhà đầu tư (doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân), các công ty công nghệ và những yếu tố kỹ thuật khác. Thị trường chứng khoán Phố Wall tại Mỹ tiếp tục phục hồi và tăng điểm mạnh mẽ, gây hiệu ứng lan truyền sang phần còn lại của thế giới, tùy theo thực tế và diễn biến dịch bệnh tại mỗi nước.
Từ giữa tháng 11/2020, tiến triển mới trong quá trình sản xuất vắc-xin phòng ngừa Covid-19 trên thế giới đã góp phần củng cố tâm lý và khuyến khích các nhà đầu tư. Đáng chú ý, Anh và Liên minh châu Âu (EU) đã đạt thỏa thuận thương mại vào ngày 24/12, chỉ vài ngày trước khi quốc gia này chính thức rời EU (gọi là Brexit). Những sự kiện này là yếu tố tích cực, thúc đẩy các thị trường chứng khoán tăng điểm trở lại. Trong phiên giao dịch cuối năm 2020, chỉ số công nghiệp Dow Jones lập kỷ lục trong lịch sử và đóng cửa ở mức 30.606,48 điểm, tăng 7,3% so với năm trước; chỉ số S&P500 đóng cửa với 3.756,07 điểm, tăng 16,3% so với năm trước; chỉ số công nghệ Nasdaq Composite đóng cửa với 12.888,28 điểm, tăng 43,6 %, mức tăng cao nhất kể từ năm 2009.
Tại châu Á, chỉ số MSCI châu Á-Thái Bình Dương (trừ Nhật Bản) tăng 0,19% lên mức kỷ lục trong phiên giao dịch thanh khoản ảm đạm cuối năm. Trong năm 2020, chỉ số này tăng gần 20%, mức tăng cao nhất kể từ 2017. Thị trường chứng khoán Trung Quốc tăng 1,76%, tăng 25% so với năm trước; chỉ số Hang Seng tại Hồng Kông tăng 0.31%. Các thị trường ở Nhật Bản và Hàn Quốc không giao dịch trong ngày cuối năm (31/12). Tuy nhiên, trước đó, chỉ số Nikkei 225 tại Nhật Bản đạt mức đỉnh 30 năm; chỉ số Kospi tại Hàn Quốc lập kỷ lục mới, tăng 31% so với năm 2019.
Trong lĩnh vực ngân hàng, các ngân hàng bước vào đại dịch với nguồn vốn và thanh khoản cao hơn nhiều so với thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu nhờ các nỗ lực cải cách môi trường pháp lý về quản lý và điều chỉnh hoạt động kinh doanh. Khi đại dịch xảy ra, các chính sách đã tập trung vào việc hỗ trợ người vay và khuyến khích ngân hàng mở rộng tín dụng. Tuy nhiên, các ngân hàng tại một số nước đã thắt chặt tiêu chuẩn cho vay nhằm đối phó với bất ổn kinh tế và vị thế tài chính của khách hàng vay vốn.
Sự ổn định của hệ thống ngân hàng sẽ tùy thuộc vào mức độ và thời gian kéo dài suy thoái do Covid-19 gây ra, khả năng của các chính phủ trong việc hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân và tốc độ thừa nhận thiệt hại. Trong kịch bản tăng trưởng kinh tế lạc quan, đa phần các ngân hàng đều có khả năng hấp thụ lỗ và duy trì nguồn vốn đệm trên mức tối thiểu cần thiết. Trong kịch bản tăng trưởng thấp, với đặc trưng là suy thoái kinh tế sâu hơn và phục hồi chậm, những ngân hàng có nguồn vốn thấp hơn mức tối thiểu cần thiết sẽ gặp nhiều khó khăn. Nhóm các ngân hàng chiến lược toàn cầu vẫn có khả năng tiến triển tốt, trong khi ngân hàng tại các nước mới nổi có vẻ kém bền vững hơn so với những ngân hàng tại các nước phát triển.
Trái với các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính phi ngân hàng ngày càng yếu ớt. Các công ty quản lý tài sản bước vào khủng hoảng y tế với mức độ tổn thương cao hơn, sai lệch kỳ hạn về thanh khoản rất lớn. Sau khi đại dịch bùng phát, những công ty này đối mặt với xu hướng gia tăng rủi ro tín dụng và bắt đầu mở rộng liên kết với các ngân hàng. Những rủi ro thông qua vị thế đầu tư cũng tăng cao, bao gồm tiền gửi ngân hàng và tỷ trọng các quỹ tiền tệ trên thị trường. Sau thông báo của các quỹ tiền tệ về chủ trương nhảy vào kênh tín dụng, hoạt động vay vốn ngân hàng đã tăng cao. Rủi ro tín dụng vì thế đã tăng đáng kể, trong khi tỷ lệ đòn bẩy tại nhiều định chế tài chính khác cũng tăng cao, có thể dẫn đến những thiệt hại tiềm tàng nếu thị trường tài chính căng thẳng trở lại.
Trong đợt bán tháo xảy ra vào tháng 3/2020, nhiều quỹ đầu tư đã ồ ạt thực hiện các giao dịch mua lại, tăng thêm áp lực tại những thị trường yếu ớt và các công ty môi giới. Nhờ các giải pháp chính sách quy mô lớn, các dòng quỹ về cơ bản đã tăng trở lại, phản ánh xu hướng phục hồi trên các thị trường tài sản. Sau khi bị thiệt hại do làn sóng bán tháo gây ra, các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí cũng phục hồi đáng kể.
Trong tương lai, rủi ro từ các định chế tài chính phi ngân hàng có thể bắt nguồn từ nỗ lực tái cân bằng danh mục đầu tư nhằm đối phó với trào lưu mua lại của các nhà đầu tư và rủi ro thị trường, hay từ quyết định của họ trong việc rút khỏi một số thị trường nhất định. Trong những năm gần đây, các định chế tài chính phi ngân hàng đã đóng vai trò ngày càng tăng trên thị trường tín dụng, bao gồm những phân đoạn rủi ro (cho vay đòn bẩy và nợ tư nhân). Một khi làn sóng vỡ nợ và mất khả năng thanh toán tăng cao trở lại, những định chế này có thể đối mặt với nguy cơ thiệt hại rất lớn. Đến lượt nó, những thiệt hại này có thể buộc các định chế tài chính phi ngân hàng phải rút khỏi hoạt động cho vay trên những phân đoạn thị trường đầy rủi ro này, có thể tăng thêm áp lực lên người vay và tình hình tài chính vĩ mô sẽ xấu đi nghiêm trọng.
Tình trạng yếu kém hiện hành tại khu vực tài chính phi ngân hàng đang đặt ra những vấn đề rất lớn đối với hệ thống tài chính, nếu một giai đoạn căng thẳng thị trường kéo dài xuất hiện trở lại, có thể do thiếu chính sách hỗ trợ đầy đủ. Thứ nhất, sai lệch kỳ hạn về thanh khoản trong lĩnh vực quản lý tài sản vẫn ở mức cao, nhất là tại những phân đoạn yếu ớt. Thứ hai, lợi suất trái phiếu ở mức quá thấp, áp lực bất ổn thị trường tăng cao, và vẫn có tâm lý hy vọng là các NHTW sẽ tiếp tục hỗ trợ những thị trường chủ chốt, và điều này có vẻ sẽ khuyến khích tái sử dụng đòn bẩy. Thứ ba, mức độ tương quan rủi ro chéo về tài sản vẫn cao hơn so với thời điểm 2008-2009.
Liên quan đến tình hình tài chính quốc gia, khủng hoảng Covid-19 được dự báo là sẽ đẩy tỷ lệ nợ công toàn cầu năm 2020 lên trên 100% GDP, mức cao nhất từ trước đến nay. Trong năm 2020, thâm hụt tài khóa cơ bản tại các nước phát triển được dự báo sẽ cao gấp 5 lần so với năm 2019. Trong khi đó, thâm hụt tài khóa tại các nước mới nổi chỉ tăng khiêm tốn, phần nhiều là do điều kiện tài chính hạn hẹp.
Trong kịch bản kinh tế lạc quan, tỷ lệ nợ công được kỳ vọng sẽ ổn định vào năm 2021, trừ trường hợp Trung Quốc và Mỹ. Các nước mới nổi có thể sẽ đối mặt với thách thức lớn hơn về tài khóa do nợ phải trả (dịch vụ nợ) cao hơn nguồn thu dự kiến. Do chi phí tài chính trong khu vực tư nhân liên quan đến lãi suất bù rủi ro quốc gia, NHTW tại những nước mới nổi có tỷ lệ nợ quốc gia ở mức cao có thể đối mặt với một số thách thức trong việc nới lỏng điều kiện tài chính (khi cần thiết phải giảm tác động đảo ngược của các cú sốc đến nền kinh tế và hệ thống tài chính). Lý do là vì, lãi suất bù rủi ro quốc gia tăng nhanh có thể bù đắp những nỗ lực của NHTW trong việc giảm các mức lãi suất thị trường.
Ngoài ra, các nước có thể phải đối mặt với xu hướng gia tăng nợ. Do đại dịch bùng phát, mức độ tổn thương gia tăng trên nhiều lĩnh vực. Ghi nhận tại 6/29 quốc gia và vùng lãnh thổ cho thấy, tổn thương về đòn bẩy tăng cao trong khu vực doanh nghiệp, ngân hàng và khu vực công. Tại hầu hết các nước, các ngân hàng có xu hướng tăng cường nắm giữ nợ chính phủ, tái thắt chặt mối liên hệ quốc gia - ngân hàng. Kết quả phân tích trường hợp Trung Quốc cho thấy, mối liên hệ quốc gia - doanh nghiệp tại từng địa phương đã dẫn đến xu hướng gia tăng đồng thời những tổn thương trong khu vực tư nhân và khu vực công, làm phát sinh rủi ro bất ổn tài chính quốc gia.
Tại nhiều nước mới nổi, tốc độ phát hành trái phiếu chính phủ tăng cao (đây là nguồn vốn tài trợ cơ bản), khi kinh tế thế giới cải thiện và điều kiện tài chính trong nước thuận lợi tại nhiều quốc gia. Một số nước mới nổi như Chilê, Côlômbia, Thái Lan đã chủ động thu xếp nguồn vốn quy mô lớn để bù đắp thâm hụt tài khóa trong giai đoạn 2020-2021, trong khi nhiều nước khác vẫn đối mặt với những yêu cầu tài trợ đáng kể. Những lo ngại xung quanh việc phát hành trái phiếu nợ và nền tảng trong nước yếu có thể thui chột động lực của các nhà đầu tư không cư trú, trong khi danh mục đầu tư gián tiếp vào trái phiếu phát hành dưới dạng bản tệ vẫn yếu ớt kể từ đợt bán tháo diễn ra vào tháng 3/2020. Kết quả là, nhiều nước mới nổi (Ấn Độ, Mêhicô và một số nước khác) phải lùi thời điểm phát hành trái phiếu bản tệ mới sang cuối năm nay, một số nước tăng cường phát hành nợ dưới dạng ngoại tệ, trong khi NHTW tại một số nước khác (Indonesia, Ba Lan) tiến hành mua trái phiếu trên thị trường thứ cấp. Nếu các nhà đầu tư trong nước không đủ mạnh để hấp thụ lượng trái phiếu nợ tăng thêm này, những quốc gia này có thể phải đối mặt với một số thách thức tài chính.
Tại các nước mới nổi, dòng vốn đầu tư gián tiếp đảo chiều và tăng cao bất thường từ tháng 02- 4/2020 đã gây ra những rối loạn đáng kể. Sau đó, dòng vốn này đã quay trở lại, dẫn dắt là trái phiếu phát hành dưới dạng đồng tiền mạnh, mặc dù trên 50% số nước mới nổi tiếp tục chứng kiến dòng vốn ra cho đến những tháng gần đây. Điều này cho thấy, các nhà đầu tư đã phân biệt giữa các quốc gia dựa trên nền tảng kinh tế và khung khổ chính sách.
Phân tích của IMF cho thấy, dòng vốn ra giảm từ khoảng 60% vào thời kỳ cao điểm đại dịch trong quý I/2020 xuống khoảng 25% vào tháng 9/2020, mặc dù vẫn cao hơn so với trước đại dịch. Thậm chí trước đại dịch, các nước mới nổi đã nâng đòn bẩy nợ vay (làm tăng thêm mức độ tổn thương tài chính) và phụ thuộc vào dòng vốn đầu tư gián tiếp. Thâm hụt tài khóa tăng cao và mở rộng vay nợ nước ngoài sẽ trầm trọng thêm mức độ tổn thương tại một số nước mới nổi, nếu điều kiện tài chính bên ngoài thay đổi, nhưng không dễ khắc phục những thách thức này trong ngắn hạn.
Chưa hết, một số nền kinh tế mới nổi hàng đầu đang đối mặt với những thách thức đáng kể về tài chính do nợ nần vốn ở mức cao và rủi ro liên quan rất lớn, trong khi Covid-19 đã đẩy chi phí vay nợ tại những quốc gia này tăng thêm. Sáng kiến của G20 về đình chỉ nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn đã hỗ trợ 73 quốc gia giải tỏa áp lực tài chính bằng cách cho phép tạm hoãn thanh toán nợ vay từ các chủ nợ chính thức cùng với điều kiện thị trường cải thiện gần đây đã góp phần giảm nhẹ những áp lực này, nhưng nhiều nước thu nhập thấp vẫn phải đảo nợ để đáp ứng nhu cầu.
Triển vọng chính sách trong năm 2021
Ngay từ những ngày cuối năm 2020, hầu hết các nước phát triển đã thông qua gói chi tiêu tài khóa quy mô lớn để đối phó với Covid-19 và chi tiêu công trong năm 2021. Ngày 11/12/2020, EU thông qua gói hỗ trợ tài chính hơn 1,8 nghìn tỷ euro để thúc đẩy phục hồi kinh tế sau Covid-19 sau thỏa hiệp với Ba Lan và Hungary. Ngày 21/12/2020, Chính phủ Nhật Bản thông qua dự thảo ngân sách trị giá 106.610 tỷ yen (1.030 tỷ USD) - lớn nhất từ trước đến nay - cho năm tài khóa 2021. Đây là một quyết định quan trọng do Nhật Bản đang gặp khó khăn với đại dịch, dân số già hóa nhanh chóng và những thách thức an ninh mới. Ngày 27/12/2020, Tổng thống Mỹ - Donald Trump đã ký, ban hành gói hỗ trợ kinh tế và chi tiêu liên bang đến tháng 9/2021 trị giá 2,3 nghìn tỷ USD (900 tỷ USD để chống Covid-19, lớn thứ hai sau gói hỗ trợ 2,3 nghìn tỷ USD vào tháng 3/2020).
Các động thái trên cho thấy, các nước này sẽ tiếp tục chính sách tài chính - tiền tệ nới lỏng trong năm 2021 để chấm dứt đại dịch và hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế. Điều này sẽ tiếp thêm động lực thúc đẩy thị trường tài chính, nhưng cũng chất thêm gánh nặng nợ nần trong những năm tới, trong bối cảnh bảng cân đối tài sản tại NHTW đã tăng thêm khoảng 30 nghìn tỷ USD nhằm đối phó với Covid-19 và suy thoái kinh tế. Trong khu vực doanh nghiệp, các gói hỗ trợ thanh khoản quy mô lớn có thể làm tăng nợ nần và vô hình dung giúp nhiều doanh nghiệp yếu kém tồn tại thêm nhiều năm. Đối với các ngân hàng, việc sử dụng các nguồn vốn đệm có thể làm giảm nguồn vốn đối phó với những cú sốc trong tương lai. Trên thị trường vốn, điều kiện tài chính thuận lợi có thể làm tăng tổn thương trong tương lai. Đối với các nước mới nổi, hạn chế về dư địa chính sách có thể cản trở hiệu quả chính sách ngắn hạn và trung hạn. Nhiều nền kinh tế hàng đầu và các nước thu nhập thấp có thể đóng cửa thị trường quốc tế do áp lực tiếp theo của đại dịch và thách thức trong môi trường kinh tế thế giới cũng như hàng loạt khó khăn đe dọa ổn định tài chính vĩ mô.
Khi tái mở cửa kinh tế, các nước sẽ tiếp tục duy trì chính sách thuận lợi và hỗ trợ thanh khoản theo mục tiêu, qua đó đảm bảo phục hồi bền vững. Đẩy mạnh tái cơ cấu nợ để giảm nợ tồn đọng và xử lý những doanh nghiệp yếu kém. Trong đó, những nước thu nhập thấp và gặp khó khăn về tài chính có thể cần đến sự giúp đỡ từ các tổ chức đa phương.
Các nước sẽ tiếp tục duy trì các biện pháp hỗ trợ có hiệu quả nhằm đảm bảo tăng trưởng cao bền vững và công bằng. Trong ngắn hạn, ưu tiên chính tập trung vào việc hỗ trợ phục hồi kinh tế, bảo vệ những đối tượng dễ bị tổn thương và củng cố hệ thống y tế; giảm tác động của khủng hoảng đến tăng trưởng kinh tế và việc làm; củng cố nguồn nhân lực và hạn chế tình trạng bất bình đẳng. Bên cạnh tác động tiêu cực, khủng hoảng cũng là cơ hội để thúc đẩy sáng tạo, phát triển hạ tầng số, hạn chế khí thải bằng cách sử dụng những công cụ khác nhau như đầu tư xanh và tăng dần giá than, cân nhắc tác động tiêu cực đến cuộc sống xã hội.
Sau khi khống chế hoàn toàn bệnh dịch, các nước sẽ rút dần các gói hỗ trợ và tập trung ưu tiên củng cố nguồn vốn ngân hàng, điều chỉnh khu vực phi ngân hàng và tăng cường giám sát thận trọng để kiềm chế rủi ro quá mức trong môi trường lãi suất thấp kéo dài. Sau đại dịch, đầu tư công tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phục hồi kinh tế. Nâng cao năng lực quản trị, quản lý ngân sách, tuyên truyền, đảm bảo hiệu quả của các gói hỗ trợ và duy trì uy tín của đầu tư công. Đây là những giải pháp quan trọng, góp phần cắt giảm thâm hụt tài khóa và nợ công trong giai đoạn trung hạn.
Thị trường tài chính Việt Nam
Nhờ các biện pháp chủ động và quyết liệt ngay từ khi Covid-19 xâm nhập vào đất nước, Việt Nam đã thành công trong việc đối phó với đại dịch, không để dịch bệnh lây lan trong cộng đồng, cùng với các biện pháp chính sách kích thích kinh tế, thu hút đầu tư, hoạt động kinh tế nhìn chung vẫn ổn định, tăng trưởng GDP năm 2020 đạt 2,91%.
Tính đến 20/12/2020, tổng thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 1.431,1 nghìn tỷ đồng, bằng 94,6% dự toán, chiếm 22,4% GDP, riêng thu thuế và phí chiếm 17,9% GDP. Trong đó, thu ngân sách trung ương đạt 87,6% dự toán và ngân sách địa phương đạt 103,7% dự toán. Trong năm 2020, ngân sách nhà nước đã chi khoảng 18,11 nghìn tỷ đồng cho công tác phòng chống dịch và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do Covid-19, ngân sách trung ương sử dụng trên 4,66 nghìn tỷ đồng để khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt và dịch tả lợn châu Phi.
Giải ngân vốn đầu tư công có chuyển nhiều biến tích cực và rõ ràng, ước cả năm đạt 389,983 nghìn tỷ đồng, tương đương 82,8% kế hoạch và là năm đạt tỷ lệ giải ngân cao nhất trong giai đoạn 2016-2020. Tính đến ngày 20/12/2020, tổng vốn FDI đăng ký đạt 28,55 tỷ USD, thấp hơn khoảng 25% so với cùng kỳ năm 2019, vốn FDI giải ngân ước đạt 19,98 tỷ USD, giảm 2% so với năm tước. Tuy giảm so với năm trước, nhưng dòng vốn FDI vào Việt Nam vẫn là con số ấn tượng, trong bối cảnh dòng vốn FDI vào các nước Đông Á dự báo sẽ giảm 30-45% trong năm nay.
Sau khi tăng 7,7% lên 960,99 điểm vào cuối năm 2019, thị trường chứng khoán tiếp tục tăng trưởng bền vững. Kết thúc năm 2020, VN-Index đóng cửa ở mức 1.103,87 điểm, tăng 14,87% so với cuối năm 2019, đứng thứ sáu trong top 10 thị trường tăng điểm cao nhất trong tháng 12/2020, và đứng thứ 5 trong top 10 thị trường tăng điểm cao nhất trong 6 tháng cuối năm 2020.
Trong lĩnh vực ngân hàng, tính đến ngày 21/12/2020, dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tăng 10,14% so với đầu năm, tăng 11,62% so với cùng kỳ năm 2019. Tính đến cuối tháng 11/2020, mặt bằng lãi suất cho vay giảm bình quân 1%/năm so với cuối năm 2019; trần lãi suất cho vay VND ngắn hạn đối với một số ngành, lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,5%/năm.
Trong năm 2020, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động điều hành tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với mức độ mức hấp thụ của nền kinh tế, tập trung vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng, lĩnh vực ưu tiên. NHNN đã 3 lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành với tổng mức giảm tới 1,5-2%/năm, đáng chú ý là động thái giảm 0,6-1%/năm trần lãi suất tiền gửi và giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên.
Cùng với việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, các tổ chức tín dụng (TCTD) đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khoảng 270.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19 với dư nợ gần 355.000 tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho gần 590.000 khách hàng với dư nợ trên 1 triệu tỷ đồng. Đặc biệt, các TCTD đã cho vay mới theo lãi suất ưu đãi (thấp hơn 0,5-2,5% so với trước đại dịch) với doanh số lũy kế từ ngày 23/01/2020 đến nay đạt gần 2,3 triệu tỷ đồng cho hơn 390.000 khách hàng.
Mặc dù kinh tế Việt Nam đang trên đà phục hồi vững chắc và trên diện rộng vào năm 2020, những làn sóng lây lan mới của Covid-19 tại nhiều nước trên thế giới có thể ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư và thương mại của Việt Nam, qua đó tác động đến triển vọng tăng trưởng GDP. Điều này đòi hỏi phải theo dõi sát sao diễn biến dịch bệnh, qua đó có thể đưa ra chính sách và giải pháp phù hợp cho quá trình phục hồi kinh tế quốc gia hậu Covid-19, Ngoài ra, thiệt hại nặng nề về người và tài sản do bão lũ gây ra trong tháng 10-11 vừa qua cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế và tài chính công với biến đổi khí hậu.
Trong lĩnh vực ngân hàng, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, thông suốt. Tập trung xây dựng, ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các chương trình, kế hoạch, đề án tổng thể của ngành Ngân hàng giai đoạn 2021-2025 để sớm ban hành và triển khai áp dụng ngay trong năm 2021 theo đúng chủ trương và định hướng nêu tại Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ giai đoạn 2021-2025; Xây dựng chiến lược, kế hoạch cụ thể để ứng phó trong tình trạng mới trên các lĩnh vực, nhất là tài chính- ngân hàng; Tăng cường nỗ lực cơ cấu lại các TCTD, xử lý nợ xấu của các ngân hàng yếu kém, góp phần kiềm chế rủi ro gia tăng nợ xấu, bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD và phát triển ổn định, bền vững; Triệt để tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay, đơn giản hóa quy trình thủ tục, tạo điều kiện cho khách hàng vay mới phục hồi sản xuất kinh doanh, đảm bảo chất lượng và an toàn tín dụng, duy trì hoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Xuân Thanh
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2020; IMF: Đánh giá định kỳ về tình hình tài chính toàn cầu; Cổng TTĐT NHNN)