Tóm tắt: \nDoanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động của DNNVV lại gặp không ít khó khăn do những hạn chế từ đặc điểm, tính chất của nó, trong đó có việc tiếp cận tài chính toàn diện, nhất là đối với các DNNVV trên địa bàn nông thôn. Trong thời gian tới, rất cần có những giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ khu vực doanh nghiệp này phát triển nhanh và bền vững.
Từ khóa: Tài chính toàn diện, DNNVV, nông nghiệp, nông thôn.
1. Chính sách thúc đẩy tài chính toàn diện đối với DNNVV của Việt Nam
Tầm quan trọng của tài chính toàn diện (Financial Inclusion) đã được khẳng định trên phạm vi toàn cầu khi Liên hợp quốc xác định đây là một giải pháp quan trọng để đạt 7 trong 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Nhóm G20 đã coi tài chính toàn diện là một trong những trụ cột chính trong định hướng phát triển từ năm 2009. Các nước ASEAN cũng xác định tài chính toàn diện là 1 trong 3 trụ cột cho Tầm nhìn ASEAN 2025 và đã thành lập Ủy ban Công tác về tài chính toàn diện (WC-FINC) từ năm 2016 với mục tiêu hợp tác thúc đẩy tài chính toàn diện ở các nước thành viên và trong khu vực. Hiện nay, hơn 60 quốc gia trên thế giới đã xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện.
Theo Ngân hàng Thế giới, tài chính toàn diện là việc các cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ tài chính hữu ích với giá cả phù hợp, bao gồm: Chuyển tiền, thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm, được cung cấp một cách có trách nhiệm và bền vững. Theo đó, tài chính toàn diện được xác định theo 03 tiêu chí sau: (i) Tiếp cận với các dịch vụ tài chính; (ii) Sử dụng dịch vụ tài chính; (iii) Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Đối tượng mục tiêu của tài chính toàn diện là mọi người dân và doanh nghiệp, trong đó, chú trọng đến nhóm người nghèo, người thu nhập thấp, người yếu thế, DNNVV, doanh nghiệp siêu nhỏ. Tại Việt Nam, tài chính toàn diện được triển khai thực hiện mạnh mẽ trong những năm qua. Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 là một dấu mốc quan trọng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam, đồng thời có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và cộng đồng DNNVV nói riêng.
Hiện nay, ở Việt Nam, DNNVV chiếm 96,7% tổng số doanh nghiệp, đóng góp 45% vào GDP, khoảng 31% thu ngân sách Nhà nước, tạo việc làm cho khoảng 50% lao động. Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của các DNNVV đối với sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế, trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho khu vực này phát triển. Để tiếp tục nâng cao hiệu lực pháp lý, đẩy mạnh thực hiện các chính sách hỗ trợ DNNVV, Quốc hội đã thông qua Luật Hỗ trợ DNNVV (năm 2017). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, với hàng loạt chính sách hỗ trợ cơ bản dành cho các DNNVV như: hỗ trợ tiếp cận tín dụng, thông tin, phát triển nguồn nhân lực, tư vấn, công nghệ... tạo bước tiến quan trọng trong công tác hoàn thiện chính sách, hỗ trợ tích cực cho DNNVV phát triển mạnh mẽ hơn.
Để thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, trong đó, có nhiều chính sách tín dụng hỗ trợ DNNVV hoạt động sản xuất - kinh doanh trên địa bàn nông thôn như cho vay không có tài sản bảo đảm, cơ cấu nợ giữ nguyên nhóm nợ. Thống đốc NHNN ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, quy định lãi suất trần cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với 5 đối tượng ưu tiên, trong đó có DNNVV, doanh nghiệp vay vốn phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn.
2. Sự vào cuộc của các TCTD trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện đối với các DNNVV thời gian qua
Bên cạnh các chính sách thúc đẩy tài chính toàn diện đối với các DNNVV của Chính phủ, NHNN, các TCTD cũng đã nhận thấy tiềm năng phát triển của khu vực này và triển khai nhiều chính sách, sản phẩm dịch vụ để cung cấp cho các DNNVV. Ngoài các định chế tài chính chuyên biệt có định hướng hoạt động phù hợp với mục tiêu của tài chính toàn diện, bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), Ngân hàng Hợp tác xã, Quỹ tín dụng nhân dân, các ngân hàng thương mại (NHTM) khác như VietinBank, BIDV, Vietcombank, LienVietPostBank... cũng triển khai nhiều chính sách nhằm hỗ trợ cho các DNNVV.
VietinBank đã xây dựng giải pháp tài chính toàn diện để phục vụ và đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu đa dạng của nhóm khách hàng DNNVV. Theo đó, VietinBank tập trung cho 3 nhóm giải pháp chính bao gồm: Giải pháp về chính sách tín dụng và sản phẩm, giải pháp về lãi suất cho vay và giải pháp về chăm sóc khách hàng. Bên cạnh việc cung cấp sản phẩm truyền thống là tín dụng cho các DNNVV, VietinBank còn cung cấp các sản phẩm trọn gói về cho vay, tài trợ chuỗi cung ứng, dịch vụ thanh toán, tài trợ thương mại, bảo hiểm, trả lương, giải pháp quản lý tài chính, thu hộ, quản lý dòng tiền, dịch vụ ngân hàng điện tử... giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, nhân lực cho doanh nghiệp. VietinBank đã tìm kiếm và dành nguồn ưu đãi cho DNNVV để cộng đồng này có thể tiếp cận nguồn vốn vay lãi suất ưu đãi nhất, tập trung phát triển sản xuất - kinh doanh. Cụ thể, VietinBank duy trì lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa 6,5%/năm đối với các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ, bao gồm: Phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; thực hiện phương án, dự án sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu; phục vụ sản xuất - kinh doanh của DNNVV; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; phục vụ sản xuất - kinh doanh của DNNVV ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh đó, VietinBank đã ban hành nhiều chương trình tín dụng hỗ trợ khách hàng DNNVV như: Gói vay 10.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại TP. Hồ Chí Minh; chương trình ưu đãi lãi suất cho vay dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp quy mô 3.000 tỷ đồng; cho vay phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch... Nhằm tạo cơ chế chính thống, xuyên suốt chăm sóc DNNVV có mối quan hệ thân thiết, VietinBank đã ra mắt VietinBank SME Club với thông điệp “Hội tụ cùng phát triển”.
BIDV thời gian qua cũng có những chính sách hỗ trợ cho các DNNVV bị ảnh hưởng do tác động của dịch bệnh Covid-19. Nhân ngày Quốc tế Phụ nữ (08/3/2021), với mục tiêu tạo điều kiện cho DNNVV do phụ nữ làm chủ (WSME) bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất - kinh doanh, BIDV ra mắt Chương trình tài chính toàn diện giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19 tới DNNVV do phụ nữ làm chủ từ nguồn tài trợ của ADB và BIDV với các giải pháp tài chính và phi tài chính hấp dẫn. Đối với các khách hàng WSME hiện hữu đủ điều kiện tham gia chương trình, BIDV thực hiện nhiều giải pháp để hỗ trợ khách hàng ổn định kinh doanh. Cụ thể, các khoản vay của khách hàng được cơ cấu thời hạn trả nợ từ 6 tháng trở lên, kỳ hạn tổng thể của khoản vay được gia hạn thêm ít nhất 6 tháng. Khách hàng còn được hỗ trợ 6 tháng tiền lãi, tối đa 10.000USD/khách hàng đối với các khoản vay cơ cấu có gốc và lãi phát sinh kể từ thời điểm Việt Nam công bố dịch (ngày 23/01/2020); đồng thời, được BIDV miễn phí phạt và các loại phí liên quan đến cơ cấu nợ. Nguồn hỗ trợ của chương trình được triển khai theo Hiệp định viện trợ không hoàn lại trị giá 5 triệu USD - trích từ Quỹ Sáng kiến tài chính dành cho nữ doanh nhân (We-Fi), do ADB ủy thác quản lý. Ngoài ra, để tạo đòn bẩy kinh doanh cho các khách hàng WSME mới, BIDV giới thiệu Chương trình tài chính toàn diện với chính sách lãi suất tín dụng ngắn hạn, trung dài hạn và phí dịch vụ ưu đãi. Theo đó, khách hàng WSME đủ điều kiện sẽ được hưởng lãi suất cho vay năm đầu tiên tối đa 7,5%/năm cùng các ưu đãi lớn hấp dẫn như miễn/giảm phí dịch vụ tài khoản thanh toán, dịch vụ thanh toán quản lý dòng tiền, dịch vụ tài trợ thương mại/bảo lãnh, dịch vụ ngân hàng điện tử.
Việc BIDV tiên phong triển khai Chương trình tài chính toàn diện giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19 tới các doanh nghiệp WSME đã góp phần nâng cao năng lực tài chính cho doanh nghiệp WSME, tạo điều kiện ổn định và phát triển hoạt động kinh doanh trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19. Đây là một trong những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp WSME của BIDV triển khai thực hiện đồng thời với các Chương trình Hỗ trợ Doanh nghiệp WSME chuyển đổi số, xây dựng các giải pháp phi tài chính như: đào tạo trực tuyến, kết nối kinh doanh thiết kế riêng cho WSME theo Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Agribank đóng vai trò chủ đạo trên thị trường tài chính nông nghiệp, nông thôn với sứ mệnh là định chế tài chính chuyên biệt thực hiện nhiệm vụ thúc đẩy tài chính toàn diện theo chỉ đạo của NHNN đã triển khai nhiều chính sách tín dụng, thanh toán, thiết kế các sản phẩm dịch vụ phù hợp để hỗ trợ cho khu vực DNNVV. Trong lĩnh vực tín dụng, Agribank là NHTM có dư nợ cho vay phục vụ nông nghiệp, nông thôn lớn nhất với trên 841 nghìn tỷ đồng, chiếm 69,4% tổng dư nợ năm 2020. Hiện nay, Agribank đang triển khai gói tín dụng ưu đãi cho DNNVV có quy mô 30 nghìn tỷ đồng với lãi suất ưu đãi ngắn hạn 4,8%/năm, trung dài hạn 7,5%/năm thấp hơn từ 2,5%/năm đến 3%/năm so với lãi suất cho vay thông thường. Ngoài ra, các DNNVV đáp ứng tiêu chí theo quy định của NHNN về lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN được vay vốn với lãi suất ưu đãi rất thấp 4,5%/năm. Trong đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 vừa qua, Agribank đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ các DNNVV như cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ, miễn giảm lãi phí, tiếp tục cho vay mới đối với doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Trong đó, có hơn 100 nghìn tỷ đồng dư nợ của khách hàng được giảm lãi suất từ 0,5%/năm đến 2,5%/năm. Trong lĩnh vực thanh toán, Agribank đã triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt như Internet banking, Mobile banking, thẻ, POS... cho các DNNVV dựa trên công nghệ hiện đại với nhiều tiện ích, chi phí hợp lý. Từ tháng 7/2021, Agribank đã có bước đột phá trong việc miễn toàn bộ phí dịch vụ chuyển tiền và tăng hạn mức các giao dịch điện tử đối với các DNNVV lên tới 50 tỷ đồng mang lại nhiều tiện ích, đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, nhất là trong thời gian phải cách ly, giãn cách xã hội để phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Để tạo điều kiện cho khách hàng được thuận tiện trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính, Agribank cũng đi đầu trong việc mở rộng phát triển hệ thống mạng lưới giao dịch (truyền thống và hiện đại) cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa kênh xuống các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, Agribank có 2.230 chi nhánh, phòng giao dịch, 3.300 ATM, 24.700 POS. Đặc biệt, Agribank đang được NHNN cho thí điểm triển khai mô hình điểm giao dịch lưu động bằng xe ô tô chuyên dùng với mục tiêu cung cấp các dịch vụ ngân hàng tài chính cho khách hàng trên địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi không có trụ sở của các NHTM.
Bên cạnh đó, VPBank, LienVietPostBank, Techcombank... cũng có chiến lược mở rộng cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng trên địa bàn nông thôn. Thương vụ sáp nhập Công ty Dịch vụ Tiết kiệm bưu điện vào LienVietBank thành LienVietPostBank chính là sự cộng hưởng sức mạnh của hai thương hiệu lớn, phát huy lợi thế hệ thống mạng lưới bao phủ rộng khắp của hệ thống bưu điện để cung cấp các dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho khách hàng. Trên thế giới, Ngân hàng Bưu điện là mô hình ngân hàng triển khai các hoạt động trực tiếp đến các khách hàng thông qua mạng lưới bưu điện sẵn có, mà tại bất kỳ quốc gia nào, mạng lưới này cũng có quy mô cực lớn xét cả về số lượng điểm giao dịch và mức độ phủ kín về mặt địa lý hành chính. Đây là mô hình được đánh giá cao trên thế giới và phù hợp với mục tiêu thúc đẩy tài chính toàn diện quốc gia của Việt Nam.
Qua khảo sát hoạt động của các NHTM cho thấy, mặc dù đã quan tâm và có nhiều chính sách hỗ trợ cho các DNNVV được tiếp cận các dịch vụ tài chính với chi phí hợp lý, tuy nhiên các NHTM vẫn chưa có các chính sách, sản phẩm dịch vụ tài chính chuyên biệt cho phân khúc DNNVV trên địa bàn nông thôn có nhiều khó khăn, bất lợi hơn so với doanh nghiệp tại các khu vực khác.
3. Những kết quả đạt được sau hơn một năm thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia
Sau hơn một năm triển khai thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, bước đầu đạt được một số kết quả như sau:
Thứ nhất, khung khổ pháp lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu tài chính toàn diện được tiếp tục hoàn thiện. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 147/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương; Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money); quy định cho phép mở tài khoản bằng phương thức điện tử (e-KYC) (Thông tư số 16/2020/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN); hướng dẫn đăng ký và sử dụng tài khoản tại Kho bạc Nhà nước; ban hành các thông tư tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19; quyết định kéo dài thời gian hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp đến ngày 31/12/2021...
Thứ hai, hệ thống mạng lưới tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính tiếp tục được phát triển (nâng số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của NHTM/100.000 người dân trưởng thành từ 12,4 chi nhánh/phòng giao dịch năm 2015 lên 17 chi nhánh/phòng giao dịch vào năm 2020). Độ bao phủ mạng lưới điểm giao dịch của NHCSXH đến năm 2020 đã tăng lên 98,4% tổng số xã cả nước; trên 92% tổng giá trị giao dịch của NHCSXH với người nghèo và các đối tượng chính sách khác được thực hiện tại điểm giao dịch xã. Mạng lưới bưu chính công cộng của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (VNPost) cũng được sử dụng để cung ứng dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thu hộ, dịch vụ chi hộ với ước tính có 20 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ hàng tháng đến cuối năm 2020.
Tính đến cuối tháng 12/2020, mạng lưới ATM, POS phủ sóng đến tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước với 19.636 ATM và 276.273 POS, tăng 2,34% đối với ATM và giảm 0,53% đối với POS so với cuối tháng 12/2019 (số lượng POS giảm nhẹ do các TCTD có xu hướng phát triển thanh toán qua QR Code).
Thứ ba, các sản phẩm, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được phát triển, tăng trưởng cao cả về số lượng và giá trị giao dịch, chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện. So với năm 2019, năm 2020 số lượng tài khoản thanh toán (của cá nhân và tổ chức) tăng khoảng 11%, đạt 104,2 triệu tài khoản, số lượng thẻ đang lưu hành tăng khoảng 13,9%; thanh toán qua thẻ, Internet, điện thoại di động cũng tăng tương ứng 43%, 8,3%, 123,9% về số lượng và 29,2%, 25,5%, 125,4% về giá trị giao dịch; thanh toán bằng QR Code đã được các ngân hàng triển khai và đạt được tốc độ tăng trưởng mạnh đến cuối tháng 12/2020, có 30 NHTM và 6 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán triển khai dịch vụ QR Code với hơn 90.000 điểm chấp nhận trên toàn quốc. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đã được kết nối với toàn bộ 63 Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh trong cả nước, đáp ứng được nhu cầu thu, chi ngân sách một cách nhanh chóng, kịp thời. Hệ thống thanh toán bù trừ tự động phục vụ các giao dịch thanh toán bán lẻ (ACH) được đưa vào vận hành từ tháng 6/2020 và sẽ tiếp tục được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch kinh tế, thương mại gắn với sự chuyển đổi nền kinh tế số.
4. Nguyên nhân của những khó khăn, thách thức trong việc tiếp cận tài chính toàn diện của các DNNVV trên địa bàn nông thôn
Mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực thúc đẩy tài chính toàn diện quốc gia trong thời gian qua, nhưng việc tiếp cận tài chính toàn diện của một số nhóm đối tượng yếu thế, trong đó có các DNNVV trên địa bàn nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức do các nguyên nhân sau:
Nguyên nhân trước tiên là từ chính những tồn tại, hạn chế của bản thân các DNNVV: Mặc dù các năm gần đây, số lượng DNNVV thành lập mới nhiều, nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp không có khả năng tồn tại, đứng vững trong cạnh tranh hoặc hoạt động kém hiệu quả. Hiện nay, DNNVV vẫn rất khó tiếp cận các nguồn lực của xã hội để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh như: tuyển dụng lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, việc tiếp cận đất đai, vay vốn tín dụng từ các ngân hàng, nguồn vốn từ các quỹ, việc ứng dụng khoa học và công nghệ. Theo kết quả điều tra, hiện nay, 65,2% DNNVV có nhu cầu vay vốn ngân hàng, nhưng mới chỉ có 30% các DNNVV mới tiếp cận được vốn từ ngân hàng, còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay từ các nguồn khác với chi phí vốn rất cao. Các DNNVV thiếu thông tin thị trường cũng như cổng đối thoại với các bộ, ngành để tìm kiếm sự hỗ trợ và sự bảo vệ, đặc biệt là các thông tin về giá cả hàng hóa, thủ tục mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như quy trình sản xuất và chất lượng yêu cầu. Sự hình thành và phát triển của các DNNVV chủ yếu là sau một giai đoạn tích lũy ngắn, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ, phần lớn phát triển từ các cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh gia đình, trình độ hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật còn nhiều hạn chế. Các DNNVV có quy mô nhỏ nên rất khó tăng năng suất lao động nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô. Mặt khác, vì quy mô nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, mở rộng quy mô sản xuất hầu như không có. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của DNNVV, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Những hạn chế này khiến cho các DNNVV rất khó tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của các NHTM do không đáp ứng đầy đủ các điều kiện, thủ tục vay vốn như: tài sản bảo đảm; tỷ lệ vốn tự có; phương án sản xuất, kinh doanh khả thi; khả năng tài chính; năng lực quản trị điều hành; hệ thống báo cáo tài chính minh bạch... Ngoài những khó khăn chung, các DNNVV trên địa bàn nông thôn còn gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính do có nhiều hạn chế hơn về môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật giao thông, mạng viễn thông, trình độ nguồn nhân lực, kiến thức về dịch vụ tài chính, ngân hàng… Điều này đã tạo ra rào cản, sự e dè, ngần ngại cho doanh nghiệp khi tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính..
5. Giải pháp và khuyến nghị để thúc đẩy tài chính toàn diện đối với DNNVV trên địa bàn nông thôn trong thời gian tới
Từ kết quả phân tích, đánh giá thực trạng tiếp cận tài chính của DNNVV trên địa bàn nông thôn Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị chính sách như sau:
Đối với các DNNVV trên địa bàn nông thôn
Để tăng khả năng tiếp cận tài chính toàn diện, các DNNVV trên địa bàn nông thôn cần chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh. Tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ trong việc lập sổ sách kế toán, khai thuế và hải quan điện tử, giao dịch ngân hàng qua internet nhằm giảm chi phí giao dịch, kết nối và chia sẻ thông tin tài chính với các tổ chức tín dụng để dần minh bạch hóa thông tin tài chính, tạo lòng tin trên thị trường và với các NHTM. Nâng cao chất lượng, trình độ quản trị doanh nhiệp, quản trị rủi ro và quản lý tài chính. Tăng cường tích lũy, bổ sung vốn tự có; khai thác các nguồn vốn giá rẻ từ các quỹ hỗ trợ phát triển DNNVV, các chương trình, dự án tài trợ DNNVV vay vốn với lãi suất ưu đãi của các NHTM và các tổ chức khác trong và ngoài nước; tiếp cận các hình thức huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu. Tích cực tham gia các hiệp hội doanh nghiệp để tiếp cận thông tin về các chính sách, chương trình hỗ trợ đối với DNNVV của Chính phủ và các TCTD. Hoàn thiện quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn tham gia chuỗi cung ứng của các đối tác lớn đặc biệt là khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng mang tính toàn cầu.
Đối với NHNN
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bắt kịp với sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ tài chính - ngân hàng, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu tài chính toàn diện.
Thứ hai, phát triển đa dạng các tổ chức cung ứng, mạng lưới kênh phân phối hỗ trợ cho người dân và DNNVV trên địa bàn nông thôn tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính cơ bản một cách thuận tiện, chi phí hợp lý. Phát triển mô hình đại lý ngân hàng, mô hình điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng của Agribank nhằm mở rộng phạm vi cung ứng dịch vụ ngân hàng tại địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Tạo điều kiện cho các tổ chức không phải ngân hàng có mạng lưới rộng khắp hoặc địa bàn hoạt động tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa (như các quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô, bưu điện, trạm xăng, mạng lưới của các tổ chức viễn thông, mạng lưới của một số tổ chức khác không phải ngân hàng) làm đại lý cho các NHTM nhằm nhanh chóng mở rộng phạm vi các điểm cung ứng dịch vụ tài chính. Phát triển các kênh phân phối hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ số nhằm mở rộng phạm vi cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính với chi phí thấp, đặc biệt là qua điện thoại di động. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức công nghệ tài chính, tổ chức viễn thông tham gia tích cực vào chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính, trên cơ sở hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các NHTM.
Thứ ba, phát triển đa dạng các sản phẩm, dịch vụ tài chính cơ bản, hướng đến những đối tượng mục tiêu của tài chính toàn diện, trong đó có các DNNVV trên địa bàn nông thôn. Đẩy mạnh thanh toán bằng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với thu, nộp thuế, phí, lệ phí, thu phạt hành chính, thanh toán lương, thanh toán hóa đơn định kỳ (điện, nước, viễn thông...)…
Thứ tư, hoàn thiện và tăng hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng tài chính, tạo điều kiện giảm phí giao dịch, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy tài chính toàn diện. Mở rộng và nâng cấp năng lực xử lý của hệ thống thanh toán bù trừ tự động phục vụ cho giao dịch bán lẻ (hệ thống ACH) để nâng cao chất lượng phục vụ cho thanh toán cá nhân và doanh nghiệp tại mọi thời điểm (24/7). Quy định các tiêu chuẩn kỹ thuật để tăng cường sự kết nối liên thông giữa các TCTD với nhau, giữa các TCTD với các tổ chức công nghệ tài chính và các tổ chức cung ứng dịch vụ khác nhằm phục vụ cho các giao dịch thanh toán điện tử trong nền kinh tế.
Thứ năm, khuyến khích các NHTM triển khai các hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu của tài chính toàn diện. Ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các NHTM cung cấp dịch vụ tài chính ưu đãi về lãi suất, phí cho các DNNVV trên địa bàn nông thôn, thông qua các công cụ tái cấp vốn, tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc...
Đối với Chính phủ
Thứ nhất, Chính phủ cần ưu tiên bố trí ngân sách xây dựng triển khai các chương trình, biện pháp tổng thể để đào tạo kiến thức, kỹ năng quản lý tài chính, nâng cao hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ tài chính cho DNNVV trên địa bàn nông thôn và các hộ kinh doanh chuẩn bị chuyển đổi sang DNNVV, từ đó tăng khả năng sử dụng, đánh giá lợi ích, rủi ro của các sản phẩm, dịch vụ tài chính do các tổ chức được cấp phép cung ứng để DNNVV có thể lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu. Xây dựng và triển khai các chương trình nhằm cung cấp thông tin cho DNNVV hiểu rõ về lợi ích, chi phí, rủi ro cùng phương thức quản lý và sử dụng hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ tài chính. Đẩy mạnh các chương trình truyền thông giáo dục, phổ biến kiến thức tài chính cho DNNVV trên các kênh truyền hình, báo chí, mạng xã hội, hệ thống loa truyền thanh trên địa bàn nông thôn. Tổ chức các chương trình đào tạo miễn phí nâng cao trình độ, năng lực quản lý tài chính, kế toán đặc biệt là các công cụ quản trị rủi ro, bảo hiểm... cho DNNVV hoạt động trên địa bàn nông thôn.
Thứ hai, nghiên cứu và ban hành quy định về bảo vệ người tiêu dùng tài chính, trong đó xác định rõ cơ chế bảo vệ người tiêu dùng tài chính trước sự đối xử không công bằng của các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính; yêu cầu về công bố thông tin của các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính; minh bạch hóa cách thức tiếp cận và giải quyết hiệu quả tranh chấp của các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính đối với người tiêu dùng tài chính; minh bạch hóa cơ cấu phí và các loại phí dịch vụ đối với người tiêu dùng tài chính. Điều này sẽ khuyến khích các DNNVV trên địa bàn nông thôn khắc phục sự e dè, ngần ngại, mạnh dạn tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính.
Thứ ba, chỉ đạo các cấp chính quyền, bộ, ngành chức năng tích cực triển khai để Luật Hỗ trợ DNNVV đi vào thực tiễn cuộc sống, quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại trên địa bàn nông thôn; tích cực cải cách thủ tục hành chính; thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, cung cấp nhân lực cho DNNVV trên địa bàn nông thôn; bảo đảm an toàn, an ninh cho DNNVV; cắt giảm các quy định, giấy phép can thiệp hành chính vào thị trường tạo ra môi trường thông thóang để các DNNVV hoạt động. Ban hành các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho DNNVV tăng khả năng tích lũy vốn, tái đầu tư, vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 như: Miễn, giảm các loại thuế, phí, cấp bù lãi suất tín dụng, giảm tiền thuê đất, đóng bảo hiểm xã hội...
Thứ tư, lồng ghép các mục tiêu tài chính toàn diện vào các chương trình xây dựng nông thôn mới, bổ sung các chỉ tiêu đánh giá tài chính toàn diện vào bộ tiêu chí nông thôn mới; đẩy mạnh hợp tác về tài chính toàn diện với các quốc gia và các tổ chức phát triển quốc tế trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện ở Việt Nam; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò và ý nghĩa của tài chính toàn diện đến các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính, người dân và doanh nghiệp trên địa bàn nông thôn.
Có thể nói, trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện tài chính toàn diện đã đóng góp không nhỏ vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng sinh kế cho người dân, phát triển DNNVV, thu hẹp khoảng cách kinh tế giữa thành thị và nông thôn. Những khó khăn trong việc tiếp cận tài chính toàn diện của DNNVV nói chung và DNNVV trên địa bàn nông thôn nói riêng, bắt nguồn từ cả khía cạnh cơ chế, chính sách của Nhà nước, lẫn trong thực tế hoạt động nội tại của DNNVV. Vì vậy, bên cạnh các chính sách của Chính phủ, NHNN, cơ chế cho vay hoặc hỗ trợ tài chính của các TCTD, yếu tố quyết định vẫn là sự nỗ lực của bản thân DNNVV.
ThS. Nguyễn Quốc Hưng
TÀI LIỆU THAM KHẢO: