Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Quốc hội Lê Thị Công đã quan tâm, ủng hộ và đánh giá tích cực những nỗ lực hoạt động của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua.
Trong phiên thảo luận của Quốc hội về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngày 08/6/2015, Đại biểu có phát biểu một số nội dung liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, trong đó có nội dung: "Chính sách tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn vẫn còn nhiều bất cập. Mặc dù Chính phủ đã triển khai rất nhiều chương trình, dự án hỗ trợ tín dụng nhằm hỗ trợ nhân dân mua máy móc, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, quá trình thực thi còn những hạn chế. Nguyên nhân chính là do một số quy định về vay vốn không phù hợp".
Về vấn đề này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giải trình như sau:
1. Về chính sách tín dụng thúc đẩy đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn:
Xác định nông nghiệp, nông thôn là một trong 5 lĩnh vực ưu tiên cần tập trung vốn đầu tư phát triển, trong những năm qua, NHNN đã chủ động, quyết liệt xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Cụ thể:
- Trình Chính phủ ban hành Nghị định 41/2010/NĐ-CP (Nghị định 41) ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai quyết liệt để thúc đẩy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đến với các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần quan trọng giúp ngành Nông nghiệp đạt được những kết quả to lớn, đặc biệt với các lĩnh vực thế mạnh như lúa gạo, thủy sản, cà phê...
- Ban hành nhiều chính sách khuyến khích các TCTD tập trung vốn cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể: (i) Hỗ trợ các TCTD có tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn lớn (từ 40% trở lên) thông qua tái cấp vốn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc; (ii) Tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng mạng lưới tại các vùng sâu, vùng xa, các địa bàn nông nghiệp, nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
- Điều chỉnh giảm mạnh và liên tục mặt bằng lãi suất thông qua việc giảm các mức lãi suất điều hành, quy định trần và điều chỉnh giảm lãi suất huy động làm cơ sở để các tổ chức tín dụng (TCTD) giảm lãi suất cho vay; quy định và giảm dần mức lãi suất cho vay tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp (hiện nay là 7%/năm, thấp hơn lãi suất cho vay các lĩnh vực khác khoảng 1-2%/năm). Thực tế, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp hoạt động hiệu quả và có phương án kinh doanh khả thi có thể được vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm.
- Chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh, đa dạng hóa hoạt động tín dụng ở nông thôn, đáp ứng nhu cầu vốn phát sinh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đơn giản hóa thủ tục vay vốn cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ về pháp lý, an toàn vốn vay, đặc biệt là đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
- Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai nhiều chính sách tín dụng đặc thù và thí điểm các chương trình, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn hơn, tăng năng suất, tạo thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, như: mô hình cánh đồng mẫu lớn, mô hình sản xuất áp dụng công nghệ cao, mô hình liên kết chuỗi sản xuất chế biến-tiêu thụ, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, chính sách cho vay thu mua, tạm trữ lúa gạo tại các tỉnh ĐBSCL, chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra theo văn bản 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012, chính sách tín dụng hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ, chính sách cho vay tái canh cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2014-2020…
Với các chính sách đồng bộ và sự triển khai quyết liệt của ngành Ngân hàng, tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua đã tăng trưởng mạnh mẽ. Đến cuối năm 2014, dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 744.622 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần so với cuối năm 2009 (thời điểm trước khi ban hành Nghị định 41), tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 30%/năm, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng bình quân chung 15% của nền kinh tế. Đến 31/5/2015, dư nợ cho vay lĩnh vực này đạt 798.000 tỷ đồng, tăng 7,17% so với cuối năm 2014, cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế (5,18%).
Trước những yêu cầu của thực tiễn đòi hỏi phải hoàn thiện chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, phục vụ cho đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động đề xuất và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực kể từ ngày 25/7/2015). Nghị định mới này đã khắc phục triệt để những tồn tại, bất cập trong thực tế triển khai Nghị định 41 và tạo điều kiện cho các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, tạo “cú hích” đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, gia tăng sức cạnh tranh, góp phần phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam; qua đó cải thiện và nâng cao điều kiện sống của cư dân vùng nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục rà soát cơ chế, thủ tục cho vay để xem xét chỉnh sửa, bổ sung chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
2. Về hỗ trợ nhân dân mua máy móc, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp:
Từ năm 2010, Nhà nước đã có chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất để nông dân mua sắm máy móc, trang thiết bị (Quyết định 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010) và liên tục sửa đổi, bổ sung (Quyết định 65/2011/QĐ-TTg ngày 02/12/2011; Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013) cho phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn nhằm nâng cao giá trị sản suất nông sản, hạn chế tổn thất sau thu hoạch, tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ưu đãi, phục vụ cơ giới hóa, ứng dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất. Ngay sau khi quyết định này được ban hành, ngày 18/4/2014 NHNN đã ban hành Thông tư 13/2014/TT-NHNN chỉ đạo và hướng dẫn các TCTD tích cực cho vay theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg. Theo đó, tổ chức, cá nhân khi vay vốn để mua máy móc, thiết bị thuộc danh mục máy móc, thiết bị theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ được ngân sách Nhà nước hỗ trợ 100% lãi vay trong 2 năm đầu và 50% lãi vay trong năm thứ 3; được hưởng lãi suất tín dụng đầu tư phát triển tại tất cả các ngân hàng thương mại.
Tính đến cuối tháng 4/2015, doanh số cho vay lũy kế kể từ khi triển khai chương trình đạt 3.150 tỷ đồng với 12.150 lượt hộ dân, cá nhân, doanh nghiệp vay vốn, dư nợ đạt 2.222 tỷ đồng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai chính sách hỗ trợ nông dân đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị gặp phải một số khó khăn làm ảnh hưởng đến kết quả cho vay của các TCTD do một số nguyên nhân không thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành Ngân hàng, như:
- Danh sách chủng loại máy, thiết bị được hưởng chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định còn một số hạn chế, như: chỉ quy định các máy sấy nông sản, thủy sản quy mô hộ, liên hộ được hưởng hỗ trợ lãi suất, không có đối tượng là các doanh nghiệp; danh mục chủng loại máy, thiết bị chưa bao gồm các máy móc thu hoạch, chế biến một số loại rau quả (chanh dây, vải, thanh long, xoài…) trong khi đây là sản phẩm thế mạnh của nông sản Việt Nam đang cần được hỗ trợ đầu tư máy móc phục vụ chế biến nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng đầu ra hướng tới xuất khẩu, ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn của người dân, doanh nghiệp và mở rộng tín dụng của các tổ chức tín dụng…
- Cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ hiện đang được áp dụng đối với nông sản như lương thực (lúa, ngô), cà phê, thủy sản, chăn nuôi, lĩnh vực diêm nghiệp mà chưa áp dụng trong lĩnh vực lâm nghiệp - lĩnh vực cũng đang cần được hỗ trợ đầu tư máy móc phục vụ chế biến nâng cao chất lượng sản phẩm;
- Lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước còn cao (hiện nay là 8,55%/năm), không có sự chênh lệch nhiều so với lãi suất vay thương mại nên chưa thu hút các tổ chức, cá nhân (đặc biệt là các doanh nghiệp) đầu tư các dự án dây chuyền máy móc, thiết bị, các dự án chế tạo máy, thiết bị sản xuất nông nghiệp;
- Một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chưa thực hiện ký kết hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản, dịch vụ cơ giới hóa với nông dân hoặc tổ chức đại diện của nông dân nên chưa được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách chưa được các địa phương quan tâm đúng mức.
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nói trên, ngày 12/6/2015, tại Hội nghị đẩy mạnh cơ giới hóa, tạo động lực tái cơ cấu ngành Nông nghiệp do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức, NHNN đã kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài chính xem xét sửa đổi các quy định trên. Đồng thời, NHNN rất mong các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, các doanh nghiệp đẩy mạnh tổ chức sản xuất theo mô hình liên kết để cùng với ngành Ngân hàng và các Bộ, ngành liên quan thực hiện hiệu quả chính sách này.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.
Trân trọng cảm ơn Đại biểu./.