TỔNG HỢP KIẾN NGHỊ CỬ TRI KỲ HỌP THỨ 9, QUỐC HỘI KHÓA XIII
VẤN ĐỀ TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1. Đề nghị sớm đánh giá kết quả thực hiện và ban hành Nghị định thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010. (Cử tri tỉnh Nam Định)
Nghị định số 41/2010/NĐ-CP (Nghị định 41) ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là chính sách quan trọng giúp khơi thông nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhằm thúc đẩy lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển tương xứng với tiềm năng theo chủ trương của Đảng, Nhà nước.
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 41, NHNN đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt chính sách này, qua đó đã thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần quan trọng giúp lĩnh vực này đạt được những kết quả to lớn, đặc biệt đối với các sản phẩm có lợi thế như lúa gạo, thủy sản, cà phê… Đến cuối năm 2014, dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 744.622 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần so với cuối năm 2009, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 30%/năm, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng bình quân chung 15% của nền kinh tế. Tính đến cuối tháng 6/2015, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 802.000 tỷ đồng, tăng 7,71% so với cuối năm 2014, cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành.
Sau 3 năm triển khai, NHNN đã thành lập đoàn khảo sát việc thực hiện Nghị định 41 tại một số địa phương đại diện cho các vùng sản xuất nông nghiệp của cả nước; đồng thời chỉ đạo các NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức sơ kết tình hình triển khai Nghị định 41 trên địa bàn. Trên cơ sở kết quả sơ kết và khảo sát thực tế tại các địa phương, NHNN đã tổ chức Hội nghị sơ kết vào tháng 12/2013 để đánh giá kết quả thực hiện cũng như những hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai Nghị định, từ đó chủ động đề xuất và tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định 41 cho phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới.
Ngày 9/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định 41 (có hiệu lực từ ngày 27/7/2015). Trong đó, các điểm nổi bật, quan trọng của Nghị định mới về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn như:
- Bổ sung đối tượng được vay vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình sinh sống trên địa bàn thành phố, thị xã nhưng tham gia sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Thúc đẩy tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, mô hình ứng dụng công nghệ cao thông qua việc quy định các tổ chức đầu mối (doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã) tham gia mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp được tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay không có tài sản bảo đảm lên đến 70%-80% giá trị dự án, phương án sản xuất, kinh doanh.
- Nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, chủ trang trại, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã... lên gấp 1,5 đến 2 lần so với quy định hiện nay. Quy định mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với một số lĩnh vực đặc thù có nhu cầu vốn lớn trong sản xuất nông nghiệp như đầu tư cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, nuôi trồng, khai thác thủy sản xa bờ, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá...cao hơn các lĩnh vực khác.
- Khuyến khích khách hàng vay vốn tham gia mua bảo hiểm trong nông nghiệp thông qua việc quy định TCTD giảm lãi suất cho vay với mức tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của các khoản cho vay cùng loại và có thời hạn tương ứng.
- Quy định cụ thể hơn về nguyên tắc, quy trình xử lý các khoản nợ vay gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng hoặc do nguyên nhân khách quan bất khả kháng đối với khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
- Khuyến khích các TCTD đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua quy định về trích lập dự phòng rủi ro, hỗ trợ nguồn vốn và các công cụ điều hành chính sách tiền tệ khác.
- Ngoài ra, Nghị định cũng quy định cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại TCTD không phải nộp lệ phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản tại cơ quan thực hiện chứng thực hợp đồng và lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm.
Nghị định mới này đã khắc phục triệt để những tồn tại, bất cập trong thực tế triển khai Nghị định 41 và tạo điều kiện cho các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, tạo “cú hích” đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, gia tăng sức cạnh tranh, góp phần phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam; qua đó cải thiện và nâng cao điều kiện sống của cư dân vùng nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
2. Đề nghị mở rộng đối tượng là các hộ ven đô thị sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn được thụ hưởng chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp theo Nghị định 41 của Chính phủ. (Cử tri tỉnh Quảng Ngãi)
Nhằm khắc phục triệt để những tồn tại, bất cập trong thực tế triển khai Nghị định 41/2010/NĐ-CP và tạo điều kiện cho các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động đề xuất và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình và được Chính phủ phê duyệt ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP (Nghị định có hiệu lực từ ngày 27/7/2015). Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị định 55/2015/NĐ-CP là mở rộng đối tượng được thụ hưởng chính sách, trong đó bao gồm các đối tượng vay vốn có hoạt động sản xuất nông nghiệp nhưng không nằm trên địa bàn nông thôn (khu vực đô thị) theo khoản 2, Điều 2 và điểm a, b khoản 2, Điều 9, cụ thể:
- Cá nhân, hộ gia đình cư trú tại khu vực đô thị có hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp được vay không có tài sản bảo đảm tối đa 50 triệu đồng.
- Cá nhân, hộ gia đình tại khu vực đô thị có tham gia liên kết trong sản xuất nông nghiệp với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp được vay không có tài sản bảo đảm tối đa 100 triệu đồng.
3. Hạn mức cho vay hỗ trợ chăn nuôi hiện nay quá thấp (15 triệu đồng) đề nghị tăng lên 30 triệu đồng. (Cử tri tỉnh An Giang)
Xác định vai trò nòng cốt của nông nghiệp trong nền kinh tế, ngành Ngân hàng đã ban hành và triển khai đồng bộ nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm hỗ trợ, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận vốn vay phục vụ sản xuất kinh doanh, đầu tư cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và phát triển chăn nuôi nói riêng.
NHNN đã quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên, trong đó lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay này phù hợp với xu hướng giảm của mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ cho các hộ nông dân duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh. Mức lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các đối tượng này thấp hơn lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất khác khoảng 1-2%/năm. Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực này là 6-7%/năm đối với ngắn hạn, 9-10%/năm đối với trung và dài hạn.
Về mức cho vay: theo Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, TCTD quyết định mức cho vay căn cứ vào nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, khả năng hoàn trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của mình.
Riêng mức cho vay tín chấp đối với lĩnh vực nông nghiệp, Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 thay thế Nghị định 41 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực từ ngày 27/7/2015) quy định các cá nhân, hộ gia đình ở nông thôn được vay không đảm bảo bằng tài sản tại các TCTD tối đa 100 triệu đồng.
Ngoài ra, đối với các đối tượng là người nghèo và đối tượng chính sách còn có thể được vay vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định tại Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ. Theo quy định hiện hành, hộ nghèo được vay vốn tín chấp tại Ngân hàng Chính sách xã hội lên tới 50 triệu đồng/hộ, với nhiều mục đích như phục vụ sản xuất, kinh doanh, sửa chữa nhà ở, điện thắp sáng, nước sạch, hỗ trợ một phần chi phí học tập cho con em hộ nghèo theo học các cấp phổ thông,…
4. Đối với việc vay vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất nông nghiệp, thời gian cho vay ngắn không phù hợp với chu kỳ đầu tư đối với cây công nghiệp dài ngày. Đề nghị điều chỉnh thời gian cho vay hợp lý để người nông dân có thêm điều kiện đầu tư phát triển sản xuất. (Cử tri tỉnh Đăk Nông)
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, NHNN đã ban hành nhiều văn bản hướng triển khai chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cũng như chỉ đạo các TCTD tập trung nguồn vốn, chủ động tháo gỡ khó khăn, đổi mới quy trình, thủ tục cho vay để tăng cường khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, người dân trong lĩnh vực này.
Về thời gian vay vốn, theo quy định tại quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của NHNN, thời hạn cho vay do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận căn cứ trên cơ sở chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của TCTD.
Bên cạnh đó, NHNN đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình và được Chính phủ ký ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực kể từ ngày 25/7/2015), trong đó có quy định về phương thức cho vay lưu vụ là phương thức cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm, theo đó tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 (hai) chu kỳ sản xuất liên tiếp.
Như vậy, khách hàng có thể chủ động thỏa thuận với TCTD về thời gian và phương thức vay vốn cho phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh nói chung và chu kỳ đầu tư cây công nghiệp dài ngày nói riêng. Nếu có khó khăn vướng mắc trong quá trình thỏa thuận thời gian vay vốn, khách hàng có thể phản ánh về đường dây nóng của NHNN hoặc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trên địa bàn để được hỗ trợ tháo gỡ.
5. Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 quy định các chủ tàu có thể dùng thân tàu làm tài sản thế chấp vay vốn, tuy nhiên các ngân hàng thương mại lại yêu cầu ngư dân được xét duyệt phải có thêm tài sản khác thế chấp mới làm hợp đồng cho vay nên nhiều ngư dân đã phải bỏ cuộc và không được hưởng chính sách hỗ trợ của Chính phủ. Đề nghị có chính sách phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho ngư dân có thể tiếp cận được nguồn vốn của Nhà nước đóng tàu vươn khơi bám biển”. (Cử tri tỉnh Hải Phòng)
Nghị định 67/2014/NĐ-CP (Nghị định 67) ngày 07/07/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản là hệ thống các chính sách đồng bộ nhằm hỗ trợ cho ngư dân vươn khơi xa, bám biển, góp phần giữ vững chủ quyền biển đảo, như: chính sách tín dụng, chính sách đầu tư, chính sách về bảo hiểm, chính sách ưu đãi thuế,.... trong đó chính sách tín dụng có vai trò hết sức quan trọng, giúp ngư dân có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng để đóng mới, nâng cấp các tàu khai thác, tàu dịch vụ hậu cần khai thác xa bờ hiện đại với thời hạn lên tới 11 năm; Nhà nước hỗ trợ lãi suất từ 4-6%/năm, chủ tàu chỉ phải trả lãi suất từ 1-3%/năm tùy thuộc vào chất liệu, công suất máy tàu đóng mới, nâng cấp để phục vụ khai thác hải sản xa bờ và chủ tàu được thế chấp giá trị tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản để đảm bảo khoản vay.
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 67, NHNN đã ban hành Thông tư số 22/2014/TT-NHNN ngày 15/8/2014 hướng dẫn thực hiện chính sách tín dụng theo Nghị định số 67. Đồng thời, kịp thời có văn bản yêu cầu:
- Các Ngân hàng thương mại (NHTM), đặc biệt là các NHTM nhà nước chủ động cân đối nguồn vốn và tích cực triển khai cho vay đối với các chủ tàu theo Nghị định 67;
- Các chi nhánh NHNN các tỉnh, thành phố tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố lựa chọn chủ tàu ngay từ cấp xã đến quá trình phê duyệt danh sách ở cấp tỉnh để rút ngắn thời gian cho vay sau khi UBND tỉnh, thành phố phê duyệt danh sách chủ tàu, đảm bảo công khai, minh bạch;
- Các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố chỉ đạo các NHTM trên địa bàn lập các tổ công tác trực tiếp xuống các xã, phường, thị trấn để hướng dẫn và giúp người dân hoàn thiện thủ tục vay vốn theo quy định và tạo điều kiện để ngư dân được vay với mức tối đa theo quy định tại Nghị định 67 với tài sản đảm bảo là chính con tàu vay đóng mới, nâng cấp; Thông báo số điện thoại thường trực của cơ quan để tiếp nhận và xử lý kịp thời ý kiến phản ánh của người dân.
Tính đến 15/6/2015, cả nước có 75 chủ tàu (đóng mới 70 tàu, nâng cấp 5 tàu) đã được các NHTM ký hợp đồng tín dụng với tổng số tiền gần 721 tỷ đồng và dư nợ đạt hơn 190 tỷ đồng. Trong đó, tài sản bảo đảm của 75 chủ tàu đều là chính con tàu đang đầu tư.
Tại Hội nghị toàn quốc ngày 24/4/2015 về đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị định 67, Lãnh đạo NHNN đã nêu rõ NHNN sẽ xử lý nghiêm khắc NHTM nào yêu cầu ngư dân vay vốn đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định 67 phải bổ sung thêm tài sản bảo đảm ngoài con tàu đang đầu tư. Do vậy, nếu trong thực tế có trường hợp NHTM yêu cầu các chủ tàu phải bổ sung thêm tài sản đảm bảo ngoài con tàu đang đầu tư, đề nghị cử tri kịp thời phản ánh về NHNN qua đường dây nóng (đăng trên website NHNN) hoặc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trên địa bàn để NHNN xử lý theo quy định.
6. Cử tri chưa đồng tình với quy định tại Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014, trong đó có nhóm chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu cá. Theo đó, ngư dân phải có vốn đối ứng là 30% mới được hỗ trợ vay vốn. Với mức vốn đối ứng cao như vậy, ngư dân sẽ không có khả năng đáp ứng để được vay vốn. Đề nghị Chính phủ xem xét, có giải pháp tháo gỡ để ngư dân sớm được vay vốn đóng tàu thuyền mới để đánh bắt xa bờ. (Cử tri tỉnh Ninh Thuận)
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai Nghị định 67 cũng gặp phải không ít khó khăn, vướng mắc làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của ngư dân. Vì vậy, tại Hội nghị toàn quốc về tình hình triển khai thực hiện Nghị định 67 tổ chức ngày 24/4/2015, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương xem xét tháo gỡ để triển khai hiệu quả chính sách phát triển thủy sản, trong đó có vấn đề vốn đối ứng của chủ tàu.
Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, ngày 12/6/2015, NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến chính sách tín dụng, trong đó đề xuất Chính phủ cho phép sửa đổi Điểm c, Khoản 1, Điều 4, Nghị định 67 theo hướng nâng mức cho vay tối đa của NHTM đối với đóng mới, nâng cấp tàu vỏ gỗ từ 70% lên 85% tổng giá trị đầu tư đóng mới, nâng cấp tàu (vốn đối ứng của chủ tàu giảm từ 30% xuống 15%). Nếu được Chính phủ chấp thuận, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ chủ trì trình Chính phủ sửa đổi quy định này.
7. Đề nghị các ngân hàng tỉnh cho các doanh nghiệp vay để mua lúa tạm trữ của người dân kịp thời đúng mùa vụ. (Cử tri tỉnh Vĩnh Long)
Trong những năm qua, chính sách thu mua tạm trữ thóc, gạo luôn được Chính phủ quan tâm chỉ đạo nhằm hỗ trợ người dân trong tiêu thụ sản phẩm, giữ ổn định giá lúa, gạo tại Đồng bằng Sông Cửu Long không bị giảm thấp trong mùa thu hoạch rộ, đảm bảo lợi nhuận cho người trồng lúa và góp phần vào sự phát triển ổn định của ngành nông nghiệp.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ, NHNN đã yêu cầu các Ngân hàng thương mại (NHTM) chủ động cân đối nguồn vốn và chỉ đạo các chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng mình kịp thời triển khai cho vay; Chỉ đạo NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng Sông Cửu Long theo dõi chặt chẽ tình hình triển khai chương trình và chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tích cực tham gia, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kịp thời vay vốn thu mua thóc, gạo tạm trữ theo chỉ đạo của Chính phủ.
Đến nay, chương trình thu mua tạm trữ 01 triệu tấn quy gạo vụ Đông Xuân 2014-2015 đã có 116/129 doanh nghiệp được Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) giao chỉ tiêu thực hiện thu mua tạm trữ1 được các NHTM cho vay với tổng doanh số cho vay đạt 8.292,18 tỷ đồng, tương đương với khối lượng thu mua tạm trữ 991.157 tấn quy gạo, đạt 99,1% chỉ tiêu được giao, cao nhất trong các đợt thu mua từ trước tới nay với mức lãi suất chỉ từ 5,4%/năm đến 7%/năm.
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, các NHTM đã kịp thời bố trí đủ nguồn vốn cho các doanh nghiệp vay thu mua tạm trữ theo đúng chỉ tiêu phân bổ với tổng số tiền cho vay đạt 190,2 tỷ đồng, tương đương với khối lượng thu mua tạm trữ là 26.440 tấn quy gạo, đạt 101,7% chỉ tiêu được giao. Trong đó, một số doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tình hình sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính (như trường hợp Công ty Cổ phần Lương thực, thực phẩm Vĩnh Long) vẫn được cấp đủ hạn mức để thực hiện thu mua tạm trữ theo đúng chỉ tiêu phân bổ nhưng thời gian xem xét cho vay kéo dài hơn các doanh nghiệp khác do các chi nhánh NHTM phải xin ý kiến phê duyệt từ Hội sở chính NHTM.
Như vậy, trong thời gian qua, các NHTM đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, của NHNN trong việc cho vay chương trình thu mua tạm trữ thóc, gạo khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long nói riêng. Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo các TCTD tập trung vốn để cho vay kịp thời, đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, thu mua, xuất khẩu gạo và chương trình tạm trữ thóc, gạo theo chỉ đạo của Chính phủ.
1 Có 13 doanh nghiệp không vay được vốn phải trả lại chỉ tiêu tạm trữ đều là những doanh nghiệp có tình hình tài chính không lành mạnh, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài (thua lỗ 3 năm liên tiếp) hoặc đang có nợ xấu, chưa trả nợ cho ngân hàng trong vụ tạm trữ Đông Xuân 2013-2014,…