THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THÁNG 12/2011
I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
1. Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngoại hối
Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội năm 2011 và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 11/2011, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt nhằm kiểm soát chặt chẽ thị trường tiền tệ và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Cụ thể:
- Theo dõi, giám sát chặt chẽ tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng như từng tổ chức tín dụng nhằm đánh giá đúng thực trạng tình hình thanh khoản của các tổ chức tín dụng; đồng thời, sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết, can thiệp, hỗ trợ kịp thời các tổ chức tín dụng có biểu hiện thiếu hụt thanh khoản.
- Ban hành Thông tư số 42/2011/TT-NHNN về việc cấp tín dụng hợp vốn của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng, trong đó, quy định cụ thể đối tượng, hình thức cấp tín dụng hợp vốn, nguyên tắc, điều kiện khi tham gia cấp tín dụng hợp vốn đối với các tổ chức tín dụng nước ngoài, quy trình cấp tín dụng hợp vốn của các tổ chức tín dụng, tài sản bảo đảm trong cấp tín dụng hợp vốn, kiểm tra và quy trình xử lý rủi ro trong cấp tín dụng hợp vốn.
- Cho phép tổ chức tín dụng xem xét, quyết định việc cho vay đối với nhu cầu vốn mua vàng của khách hàng để sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ. Theo đó, các tổ chức tín dụng có trách nhiệm kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay để đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích, đảm bảo khả năng thu hồi nợ đúng hạn cả gốc và lãi, tự chịu trách nhiệm nếu phát sinh rủi ro trong quá trình cho khách hàng vay vốn.
- Tiếp tục giám sát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng cả năm 2011 và tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất của từng tổ chức tín dụng. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành các quy định về chấm dứt huy động và cho vay bằng vàng, đặc biệt là nghiệp vụ cầm cố bằng vàng, giữ hộ vàng, ký quỹ vàng tại các tổ chức tín dụng; các nghiệp vụ ủy thác, đầu tư và các hình thức cấp tín dụng khác bằng vàng; đồng thời, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
2. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
- Trên cơ sở đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thiện việc xây dựng Đề án tổng thể tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, trình Thủ tướng Chính phủ và Bộ Chính trị. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các đơn vị chức năng giám sát chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng yếu kém và xây dựng phương án xử lý đối với từng ngân hàng này, chuẩn bị tốt về nguồn lực và cơ sở pháp lý cho quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, trong tháng 12/2011, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép 3 ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất, Việt Nam Tín Nghĩa và Sài Gòn hợp nhất trên cơ sở tự nguyện với sự hỗ trợ toàn diện của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) và sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước. Do được chuẩn bị chu đáo, thận trọng nên về cơ bản việc hợp nhất 3 ngân hàng trên không gây xáo trộn lớn về kinh tế, chính trị, xã hội.
3. Phát triển hệ thống tài chính vi mô
- Nhằm xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô an toàn, bền vững, hướng tới phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững, Ngân hàng Nhà nước đã trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020. Trên cơ sở 5 nhóm giải pháp chính được phê duyệt tại Đề án, Ngân hàng Nhà nước đã cụ thể hóa thành các giải pháp trung, dài hạn và chia làm hai giai đoạn triển khai: 2011-2015 và 2016-2020.
4. Để đáp ứng đủ nhu cầu tiền mặt và tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn, chất lượng dịch vụ ATM, trong dịp năm mới 2012 và Tết Nguyên đán Nhâm Thìn, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu:
- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố theo dõi sát diễn biến thu, chi tiền mặt trên địa bàn và tăng cường kiểm tra, chỉ đạo các tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước trên địa bàn chi đủ cơ cấu mệnh giá các loại tiền đối với các nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng; Phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp đổi tiền để trục lợi cá nhân, gây ảnh hưởng đến lưu thông tiền tệ trên địa bàn; tăng cường kiểm tra, theo dõi hoạt động của mạng lưới ATM trên địa bàn, chỉ đạo xử lý nhanh các sự cố phát sinh và tham mưu cho các cấp chính quyền, địa phương phát động quần chúng nhân dân tham gia phòng chống tội phạm ATM.
- Các tổ chức phát hành, thanh toán thẻ tăng cường các biện pháp đảm bảo an toàn, phối hợp với cơ quan an ninh trong công tác phòng chống tội phạm công nghệ cao; có hình thức cảnh báo, nhắc nhở thích hợp để khách hàng đề cao cảnh giác; Các tổ chức chuyển mạch thẻ bố trí cán bộ xử lý kịp thời, chính xác, liên tục các giao dịch chuyển mạch và xử lý nhanh các tra soát, khiếu nại liên mạng.
5. Ban hành văn bản
- Trong tháng 12, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành 3 Thông tư hướng dẫn 2 Luật ngân hàng, gồm: (i) Thông tư số 39/2011/TT-NHNN quy định về việc kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (ii) Thông tư số 40/2011/TT-NHNN quy định về việc cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; (iii) Thông tư số 41/2011/TT-NHNN hướng dẫn nhận biết và cập nhật thông tin khách hàng trên cơ sở rủi ro phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền.
II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH TIỀN TỆ, TÍN DỤNG TRONG THÁNG 12/2011
1. Lãi suất
So với cuối tháng 11/2011, lãi suất huy động và cho vay VND tiếp tục ổn định; Lãi suất huy động và lãi suất cho vay USD ít biến động. Cụ thể như sau:
- Lãi suất huy động VND phổ biến ở mức 3-6%/năm đối với không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng, 14%/năm đối với các kỳ hạn từ 01 tháng trở lên;
- Lãi suất cho vay VND đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khắc phục hậu quả bão lụt giảm 0,5-1%/năm, hiện ở mức 14,5-17%/năm, thấp nhất 13,5%/năm; cho vay sản xuất - kinh doanh khác khoảng 18-20%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất khoảng 20-25%/năm;
- Lãi suất huy động USD phổ biến ở mức 2,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn của dân cư và 0,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức kinh tế;
- Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 6-7,5%/năm đối với ngắn hạn, 7,5-8%/năm đối với trung và dài hạn.
Lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng tương đối ổn định so với cuối tháng 11/2011, hiện lãi suất qua đêm ở mức 13-14%/năm, kỳ hạn 1 tuần 15-16%/năm, 2 tuần khoảng 16-17%/năm, 1 tháng khoảng 17-17,5%/năm.
2. Thị trường ngoại tệ và vàng
- Tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong tháng 12 được điều chỉnh tăng 0,12% so với cuối tháng 11/2011, tăng 10,01% so với cuối năm 2010 và hiện đang ở mức 20.828 VND/USD. Tỷ giá mua - bán của các ngân hàng thương mại theo sát diễn biến tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá bán ra luôn sát trần cho phép. Đến ngày 26/12/2011, tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại ở mức 21.028-21.034 VND/USD.
- Giá vàng trong nước tháng 12/2011 biến động theo xu hướng của giá vàng thế giới, tuy nhiên mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới đã tăng lên so với tháng trước. Ngày 27/12/2011, giá vàng trong nước ở mức 43,150 triệu đồng/lượng, cao hơn giá vàng thế giới khoảng 2,5 triệu đồng/lượng.
3. Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng đến 21/12/2011 ước tăng 1,46% so với tháng trước, trong đó tiền gửi bằng VNĐ tăng 0,98%, tiền gửi bằng ngoại tệ tăng 3,52%. So với cuối năm trước, tổng số dư tiền gửi của khách hàng ước tăng 9,89%.
4. Tín dụng đối với nền kinh tế đến 21/12/2011 ước tăng 0,77% so với tháng trước, trong đó tín dụng bằng VND tăng 1,05%, tín dụng bằng ngoại tệ giảm 0,17%. So với cuối năm trước, tín dụng đối với nền kinh tế ước tăng 10,90%.
5. Tổng phương tiện thanh toán đến 21/12/2011 ước tăng 2,00% so với tháng trước và tăng 9,27% so với cuối năm 2010; trong đó tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng tăng 5,52% so với tháng trước và so với cuối năm trước tăng 5,49%.
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM