Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Tạp chí Ngân hàng

Thị trường chứng khoán phái sinh: Cảnh báo rủi ro trong giai đoạn vận hành (số 3)

13/04/2017 17:43:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Thị trường chứng khoán phái sinh: Cảnh báo rủi ro trong giai đoạn vận hành

TS. Đinh Bảo Ngọc, ThS. Võ Hoàng Diễm Trinh1

 

Phát triển thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) là nội dung quan trọng trong Chiến lược cảnh báo phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) đến năm 2020 của Chính phủ. TTCK Việt Nam hiện mới chỉ có các chứng khoán cơ sở (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ) và còn thiếu các công cụ tài chính phòng ngừa rủi ro. Chứng khoán phái sinh (CKPS) giúp đa dạng hóa các công cụ đầu tư hiện có, đồng thời là công cụ giúp nhà đầu tư phòng ngừa và quản lý rủi ro. Dự kiến đầu năm 2017, TTCKPS Việt Nam sẽ chính thức đi vào vận hành. Nghiên cứu tập trung khảo sát những rủi ro có thể phát sinh trong giao dịch CKPS và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong giai đoạn đầu của quá trình vận hành TTCKPS tại Việt Nam.

 

1. Giới thiệu

TTCKPS phản ánh mức độ phát triển sâu rộng của thị trường tài chính và xu thế hội nhập quốc tế. Bên cạnh những lợi ích như phòng ngừa rủi ro, đa dạng hóa sản phẩm, góp phần phân bổ nguồn lực…, việc giao dịch CKPS có thể gặp nhiều rủi ro do CKPS là công cụ tài chính bậc cao và cũng khá phức tạp. Thực tế trên thế giới đã ghi nhận nhiều trường hợp rủi ro đáng kể trong giao dịch CKPS: (Bảng 1)

Bảng 1: Thua lỗ trên các thị trường phái sinh

Chủ thể

Số tiền

Sản phẩm

Thời gian

AIG

18 tỷ USD

Hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS)

2008

Société Générale

7.2 tỷ USD

Hợp đồng tương lai

2008

Amaranth Advisors

6,4 tỷ USD

Hợp đồng tương lai

2006

Metallgesellschaft AG

1,3 tỷ USD

Phái sinh dầu

1993-1994

Barings Bank

1,2 tỷ USD

Hợp đồng tương lai

1995

Munich Re

800 triệu USD

Sản phẩm phái sinh

2015

            Nguồn: Tác giả tổng hợp

TTCKPS đã vận hành từ rất lâu ở nhiều nước trên thế giới nhưng đối với Việt Nam, vẫn còn rất mới mẻ. Việc triển khai TTCKPS là nhu cầu tất yếu, giúp hoàn thiện cấu trúc của TTCK Việt Nam và tăng tính cạnh tranh của thị trường trong nước với các TTCK khu vực và quốc tế. Theo Quyết định số 336/QĐ-TTg ngày 11/3/2014, kế hoạch phát triển thị trường CKPS Việt Nam gồm các giai đoạn sau:

- 2013-2015: Xây dựng khung pháp lý, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật để vận hành thị trường CKPS.

- Giai đoạn 2016-2020: Tổ chức giao dịch các CKPS dựa trên tài sản cơ sở là chứng khoán (chỉ số chứng khoán, trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu).

- Giai đoạn sau 2020: Phát triển TTCKPS thống nhất dựa trên các tài sản cơ sở theo thông lệ quốc tế.

Ngày 05/05/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/2015/NĐ-CP về CKPS và TTCKPS, tạo cơ sở pháp lý để hình thành và phát triển TTCKPS Việt Nam. Việc giao dịch CKPS có thể sẽ gặp phải nhiều rủi ro, đặc biệt trong giai đoạn mới hình thành và triển khai như Việt Nam. Do vậy, việc nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện các nguy cơ rủi ro của TTCKPS cũng như đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, góp phần thúc đẩy sự phát triển TTCKPS Việt Nam là hết sức cần thiết. Thông qua việc khảo sát, phân tích những rủi ro trong giao dịch CKPS (bao gồm: rủi ro giá, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro chiến lược) có thể phát sinh tại Việt Nam, nghiên cứu sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong giai đoạn hình thành, thúc đẩy TTCKPS Việt Nam phát triển ổn định và bền vững.

 

2. Cảnh báo rủi ro của TTCKPS Việt Nam trong giai đoạn vận hành

Theo như dự kiến, đến đầu năm 2017, TTCKPS Việt Nam sẽ chính thức đi vào vận hành. Do vậy, nghiên cứu khảo sát, ước lượng một số rủi ro mà nhà đầu tư cũng như chủ thể khác tham gia trên TTCKPS có thể sẽ đối mặt trong giai đoạn đầu triển khai tại Việt Nam.

Rủi ro giá: Đây là rủi ro ảnh hưởng đến giá của hợp đồng phái sinh do sự tác động của các biến trên thị trường (giá của tài sản cơ sở, lãi suất, tỷ giá...) (Ludger & Clifford, 1995).

Trong số các công cụ phái sinh chính, gồm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hoán đổi, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã lựa chọn triển khai hợp đồng tương lai trong giai đoạn vận hành TTCKPS Việt Nam. Nghiên cứu từ kinh nghiệm các nước cho thấy, hợp đồng tương lai dựa trên chỉ số luôn là sản phẩm đầu tiên đặt nền móng cho TTCKPS. Ví dụ, Mỹ và Thái Lan cũng từng bắt đầu mở cửa TTCKPS bằng hợp đồng tương lai, lần lượt dựa trên chỉ số S&P 500 (năm 1982) và SET500
(năm 2006).

Tại TTCKPS Việt Nam, hợp đồng tương lai trên chỉ số cổ phiếu (VN30, HNX30) và trên trái phiếu chính phủ được lựa chọn triển khai trong giai đoạn đầu. Về bản chất, chỉ số cổ phiếu được xây dựng dựa trên nhiều cổ phiếu thuộc các ngành nghề khác nhau. Chính nhờ yếu tố đa dạng hóa, chỉ số cổ phiếu giảm thiểu được rủi ro trực tiếp phát sinh từ một mã cổ phiếu hoặc một ngành. Trên TTCK hiện nay, các chỉ số VN30, VNMidcap, VNSmallcap, VN100 và VNAllshare, HNX30… đều được xây dựng theo nguyên tắc này. Việc bước đầu chỉ đưa vào giao dịch hai sản phẩm này sẽ giúp thị trường giảm được một số rủi ro như: rủi ro giá, rủi ro hoạt động nhưng lại có thể gia tăng rủi ro thanh khoản.

Diễn biến lãi suất và tỷ giá tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua khá ổn định do có sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, điều này cũng giúp hạn chế rủi ro giá trên TTCKPS trong giai đoạn triển khai. (Đồ thị 1, 2)

Đồ thị 1. Diễn biến lãi suất liên ngân hàng tại Việt Nam

 

Nguồn: Bloomberg

 

Đồ thị 2. Diễn biến tỷ giá USD/VND tại Việt Nam

 

Nguồn: Bloomberg

Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển chung, TTCKPS Việt Nam cũng sẽ phải phát triển, đa dạng hàng hóa giao dịch. Việc xác định giá tương lai hay giá quyền chọn phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi của các biến số trên thị trường, cụ thể là giá tài sản cơ sở, lãi suất, tỷ giá… Trong khi đó, tại Việt Nam, hiện nay, chưa thực sự có các công cụ và phương pháp dự đoán chính xác các xu hướng biến động của các biến số ảnh hưởng đến giá của CKPS. Chính điều này có thể gây ra rủi ro giá cho các chủ thể tham gia trên TTCKPS.

Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện đúng trách nhiệm của mình trong hợp đồng phái sinh.

Ở Việt Nam, hiện chưa có nhiều tổ chức đánh giá và xếp hạng tín nhiệm có độ tin cậy cao nên việc xác định mức độ rủi ro của các doanh nghiệp, các trung gian tài chính còn khó khăn, thiếu chính xác dẫn đến nguy cơ rủi ro tín dụng trong giao dịch các CKPS. Một số tổ chức đánh giá tín nhiệm và xếp hạng doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:

- Công ty Thông tin tín nhiệm và xếp hạng doanh nghiệp (C&R): Đây là Công ty tư nhân đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp. C&R có hệ thống đánh giá tín nhiệm dựa trên các tiêu chuẩn của các công ty xếp hạng tín nhiệm hàng đầu trên thế giới (Moody’s, Standard &Poor’s…), nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với thực tế Việt Nam.

- Công ty phần mềm và truyền thông VASC chuyên cung cấp cho thị trường các đánh giá tín nhiệm độc lập, các chỉ số tín nhiệm, các báo cáo phân tích, báo cáo đánh giá rủi ro, các nghiên cứu đầu tư và các dữ liệu về doanh nghiệp.

- Công ty Cổ phần Xếp hạng tín nhiệm Doanh nghiệp Việt Nam (CRV Index) cũng là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đánh giá và xếp hạng tín nhiệm.

- Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) của Ngân hàng Nhà nước: do mục tiêu hoạt động là phục vụ hệ thống ngân hàng nên hiện nay CIC chưa xếp hạng tín nhiệm đối với các ngân hàng thương mại mà chỉ áp dụng đối với xếp hạng các khách hàng của ngân hàng, tức là các doanh nghiệp. CIC cùng với Công ty Thông tin tín nhiệm Việt Nam đã xuất bản ấn phẩm “Xếp hạng tín dụng Top 1000 Doanh nghiệp Việt Nam năm 2011” và “Xếp hạng tín dụng Top 1000 Doanh nghiệp Việt Nam năm 2015” trực tuyến.

Như vậy, ở Việt Nam, hiện chưa có tổ chức nào đánh giá và xếp hạng tín nhiệm cho các trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng, nhóm chủ thể chính tham gia vào thị trường CKPS. Điều này tạo nguy cơ rủi ro tín dụng cho các bên tham gia.

Thêm vào đó, hiện nay, chất lượng thông tin trong báo cáo tài chính còn chưa rõ ràng, độ tin cậy chưa cao. Kết quả sau khi kiểm toán có nhiều vấn đề sai lệch liên quan đến số liệu báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của các công ty. Tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính chưa cao ảnh hưởng đến khả năng dự đoán giá chứng khoán cơ sở, ảnh hưởng đến chất lượng xếp hạng tín nhiệm và khó khăn cho các bên tham gia trong việc xác định đối tác đáng tin cậy để giao dịch nhằm hạn chế rủi ro tín dụng. (Bảng 2)

Bảng 2: Sai phạm trọng yếu trong báo cáo tài chính

 

Chênh lệch lợi nhuận <5%

5% ≤ Chênh lệch lợi nhuận ≤ 10%

Chênh lệch lợi nhuận >10%

Tổng

Không có sai phạm

76

0

0

76

76.0%

0.0%

0.0%

76.0%

Sai phạm trọng yếu

0

11

13

24

0.0%

11.0%

13.0%

24.0%

Tổng

76

11

13

100

            Nguồn: Nghiên cứu của Huỳnh Thị Phương Thảo (2016)

Kết quả khảo sát cho thấy: trong số 100 công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, nếu lấy mốc chênh lệch lợi nhuận trước kiểm toán và sau kiểm toán từ 5% thì có 24% công ty niêm yết có sai phạm trọng yếu trong báo cáo tài chính (BCTC) (Trong kiểm toán, nếu tỉ lệ chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán từ 5% đến 10% thì BCTC có sai phạm trọng yếu). Trong đó, 13% công ty có sai phạm nghiêm trọng (chênh lệch lợi nhuận >10%). Như vậy, nếu các nhà đầu tư, các bên tham gia thị trường căn cứ vào các thông tin của BCTC để đưa ra các quyết định giao dịch thì có thể gặp phải nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Kết quả sai phạm trọng yếu trên được thống kê từ số liệu điều tra trên 100 công ty niêm yết trên cả hai sàn HSX và HNX. Nếu các công ty chưa niêm yết thì thông tin càng ít minh bạch, do đó tỉ lệ sai phạm có thể còn cao hơn rất nhiều.

Để hạn chế rủi ro tín dụng trong các giao dịch CKPS, các Trung tâm bù trừ (TTBT) thường yêu cầu các bên tham gia phải ký quỹ. Tương tự nhiều TTCKPS trên thế giới, TTCKPS Việt Nam sẽ áp dụng hệ thống ký quỹ của Mỹ, bao gồm Ký quỹ ban đầu và Ký quỹ duy trì.

Rủi ro thanh khoản: Rủi ro này liên quan đến khả năng thanh khoản của các sản phẩm phái sinh trên thị trường.

Trong thời gian qua, nhiều ngân hàng đã thí điểm các sản phẩm phái sinh cụ thể: năm 2005, Techcombank đã cung cấp sản phẩm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lại cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu cà phê; năm 2008, Eximbank cung cấp một dạng hợp đồng hoán đổi ngoại tệ; năm 2011, Ngân hàng Hàng hải đã cho ra mắt sản phẩm quyền chọn song tệ… Tuy nhiên, hoạt động liên quan đến các CKPS gần như chỉ liên quan đến các ngân hàng, chưa được các nhà đầu tư tổ chức cũng như cá nhân biết đến một cách phổ biến. Do đó, khả năng thanh khoản của các sản phẩm phái sinh còn khá thấp.

Hiện nay, theo Nghị định 42, tài sản cơ sở của hợp đồng tương lai là chỉ số cổ phiếu, cụ thể là chỉ số VN30 và HNX30. Hai chỉ số này biến động không nhiều trong những năm gần đây. Đồ thị 3 cho thấy trong giai đoạn từ tháng 7/2014 đến tháng 7/2016, VN30 đạt chỉ số cao nhất là 678.59, và thấp nhất là 538.53. Tính bất ổn định của các chỉ số không cao sẽ giúp hạn chế được rủi ro giá, tuy nhiên sẽ làm tăng rủi ro thanh khoản do ít thu hút được các nhà đầu tư, đặc biệt là nhóm đầu cơ hoặc kinh doanh chênh lệch giá. Đây là nhóm chủ thể chính tạo nên sự sôi động cho thị trường. (Đồ thị 3)

Đồ thị 3: Diễn biến giá của Chỉ số VN30

                     Nguồn: cafef.vn

Ngoài ra, tại Việt Nam, các thông tin thị trường cũng như thông tin của các công ty niêm yết chưa được cung cấp chính xác và kịp thời có thể dẫn đến tình trạng thông tin bất đối xứng cho các bên tham gia thị trường, do đó sẽ ảnh hưởng đến việc xác định giá tương lai. Điều này cũng có thể sẽ làm giảm khả năng thanh khoản của các CKPS.

Để gia tăng tính thanh khoản cho thị trường, theo quy định của TTCKPS Việt Nam, nhà đầu tư được quyền rút ký quỹ ngay khi tài khoản giao dịch có lãi vào ngày T+1 (sau ngày khớp lệnh một ngày). Như vậy, tính thanh khoản dòng tiền đầu tư vào CKPS cao hơn so với chứng khoán (áp dụng quy định T+3).

Rủi ro hoạt động: Rủi ro hoạt động liên quan đến tiến trình chung của hoạt động kinh doanh sản phẩm phái sinh, bao gồm: rủi ro pháp lý, rủi ro hoạt động do sự thiếu hụt thông tin giám sát và hệ thống kiểm soát các giao dịch phái sinh.

Rủi ro hoạt động là vấn đề của mọi thị trường. Nếu các quy định, nghị định, thông tư không rõ ràng, đầy đủ thì sẽ gây khó khăn cho các chủ thể tham gia trong việc tuân thủ các văn bản pháp lý liên quan đến giao dịch chứng khoán và CKPS nếu chưa thật sự hoàn thiện và đầy đủ, chưa tính toán được hết các tình huống giao dịch phát sinh có thể gây ra rủi ro pháp lý cho các bên tham gia. Do vậy, trước những yêu cầu chuẩn bị cho sự ra đời của TTCKPS Việt Nam, các cơ quan chức năng đã ban hành một số văn bản có liên quan trực tiếp đến CKPS và TTCKPS, cụ thể: Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển TTCKPS Việt Nam, hiệu lực từ ngày 11/3/2014 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên điều chỉnh về TTCKPS tại Việt Nam. Hai văn bản pháp luật mới nhất liên quan đến hoạt động của TTCKPS Việt Nam là Nghị định số 42/2015/NĐ-CP và Thông tư số 11/2016/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 05/5/2015 của Chính phủ về CKPS và TTCKPS. Trên cơ sở hệ thống các văn bản pháp luật nêu trên, các Sở GDCK, Trung tâm Lưu ký Việt Nam (VSD) tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn cho hoạt động của TTCKPS tại Việt Nam nhằm giảm thiểu rủi ro hoạt động có thể phát sinh.

Rủi ro hoạt động cũng có thể phát sinh do công tác kiểm soát nội bộ, hệ thống thông tin, và quy trình điều hành chưa được hoàn thiện. TTCKPS Việt Nam giai đoạn đầu mới vận hành sẽ phải đối mặt với rủi ro này. Mặc dù đã có Nghị định và Thông tư hướng dẫn về CKPS nhưng TTCKPS Việt Nam vẫn có thể gặp những sai sót, rủi ro trong quá trình thực hiện giao dịch. Nguyên nhân có thể do đội ngũ nhân viên chưa có kinh nghiệm, cách thức phân phối sản phẩm chưa thực sự tốt, cơ chế hoạt động của thị trường chưa thực sự hiệu quả… Hơn nữa, hệ thống thông tin, giám sát, kiểm soát của Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế. Thật vậy, trong thời gian qua, nhiều số liệu trong báo cáo tài chính của công ty niêm yết đã có sự sai lệch đáng kể. Theo số liệu điều tra 100 công ty niêm yết tại TTCK Việt Nam thì có đến 24 công ty có sai phạm trọng yếu, chênh lệch lợi nhuận từ báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán lớn hơn 5% (Thảo, 2016). Xảy ra điều này là do cơ chế giám sát để ngăn ngừa và phát hiện các gian lận cũng như các sai sót trong báo cáo tài chính khi công bố chưa thực sự hữu hiệu.

Rủi ro chiến lược: Rủi ro chiến lược là nguy cơ làm giảm thu nhập hoặc vốn do các quyết định bất lợi trong chiến lược đầu tư sản phẩm phái sinh hoặc thực hiện không đúng các chiến lược đã được hoạch định.

TTCKPS Việt Nam trong giai đoạn vận hành khó có thể tránh khỏi các rủi ro chiến lược. Bước đầu tham gia vào thị trường nên một số chủ thể có thể chưa tận dụng hết các khả năng và thế mạnh của mình để đưa ra các chiến lược phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Theo nghiên cứu của Linh (2015), nguyên nhân chính hạn chế sự phát triển của sản phẩm phái sinh tại Việt Nam là do doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về CKPS, hoặc đã biết về CKPS nhưng chưa thực sự am hiểu. Như vậy, sẽ càng khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc đưa ra chiến lược đầu tư trên TTCKPS phù hợp, dẫn đến rủi ro chiến lược (Đồ thị 4)

Đồ thị 4

          Nguồn: Nghiên cứu của Ngô Thị Thùy Linh (2015)

 

   Rủi ro hệ thống: Rủi ro này thường được xem như là một hiệu ứng domino, xảy ra khi các bên tham gia không thực hiện đúng cam kết của hợp đồng phái sinh, từ đó tiếp tục ảnh hưởng đến các hợp đồng phái sinh khác và thị trường, cuối cùng đe dọa đến toàn bộ hệ thống tài chính. (Comptroller, 2012).

Theo các chuyên gia, mặc dù CKPS giúp đa dạng hóa các cơ hội đầu tư nhưng chính CKPS cũng có thể tạo ra rủi ro hệ thống lên toàn thị trường. Những công cụ tài chính phái sinh như là đòn bẩy, sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro khi tỷ lệ đặt cọc, ký quỹ chỉ từ 10% - 15% giá trị giao dịch. Do đó, một biến động nhỏ của thị trường có thể bị khuếch đại lên rất nhiều bởi chỉ số tăng giảm 1%, tài khoản của nhà đầu tư sẽ biến động ngay 8 - 10%. Theo Ông Lee Hyo Seob - Viện nghiên cứu thị trường Vốn Hàn Quốc, tại Hàn Quốc cũng có nhiều công ty chứng khoán vừa và nhỏ đã bị phá sản, khi không kiểm soát được tỷ lệ ký quỹ của nhà đầu tư. Theo ông Mai Hoàng Long - Trưởng phòng Phát triển sản phẩm Công ty CP Chứng khoán MBS, CKPS như “con dao hai lưỡi”, khi đồng loạt các nhà đầu tư mất khả năng thanh toán, dẫn đến nguy cơ đổ vỡ của thị trường. Đây cũng là lo ngại lớn nhất đối với các nhà hoạch định chính sách khi triển khai thị trường CKPS tại Việt Nam.

3. Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong giao dịch CKPS tại Việt Nam

Thị trường CKPS mang tính phức tạp, giao dịch có thể gặp nhiều rủi ro, nhất là trong giai đoạn triển khai. Nhằm hạn chế rủi ro trong giao dịch CKPS, góp phần thúc đẩy TTCKPS Việt Nam phát triển bền vững, một số nhóm giải pháp được đề xuất:

3.1. Công tác đào tạo, tuyên truyền 

Nhìn chung, tình hình tuyên truyền, phổ biến kiến thức cơ bản về CKPS và TTCKPS đã được triển khai trong năm 2015 với nhiều hình thức khác nhau như qua cổng thông tin điện tử của UBCKNN, qua các ấn phẩm đã được xuất bản, qua các kênh truyền hình… cùng với các chương trình đào tạo chuyên sâu. Công tác đào tạo người hành nghề được triển khai trên nền tảng giáo trình mới kể từ tháng 4/2015. Đến nay, các nội dung về khung pháp lý, cơ chế giao dịch và cách thức vận hành TTCKPS đã được phổ biến qua các cuộc hội thảo quy mô rộng rãi tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.

Mặc dù công tác đào tạo, tuyên truyền về TTCKPS thời gian qua cũng đã được chú trọng, song, hiện tại, công tác này vẫn chưa thực sự toàn diện và phổ biến đến công chúng:

- Kiến thức và thông tin cập nhật về CKPS và TTCKPS vẫn còn rất ít trên các website (chủ yếu qua cổng thông tin điện tử của UBCKNN nhưng thông tin vẫn còn sơ lược và ít được cập nhật).

- Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo Chứng khoán (SRTC) phối hợp với kênh VTV2 thuộc Đài truyền hình Việt Nam tổ chức chương trình “Tìm hiểu về TTCKPS”. Chương trình đã từng được phát sóng vào 14h các ngày thứ 4 và thứ 6 hàng tuần trên VTV2 từ 26/11 đến 19/12/2014. Tuy nhiên, hiện tại, chương trình chưa được duy trì thường xuyên mặc dù các chương trình này là rất cần thiết trong giai đoạn chuẩn bị đưa TTCKPS vào vận hành như hiện nay.

- Môn CKPS chưa được các trường đại học thuộc khối kinh tế chú trọng đưa vào giảng dạy như học phần bắt buộc. Hầu hết chương trình đào tạo về CKPS và TTCKPS tại các cơ sở đào tạo này được lồng ghép vào chương trình đào tạo của các môn học như: Tài chính quốc tế, Thị trường tài chính và các định chế, Thị trường chứng khoán, Kinh doanh chứng khoán, Định giá các sản phẩm tài chính, Phân tích đầu tư chứng khoán… Cụ thể:

+ ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh: Ngành Tài chính - Ngân hàng có 5 chuyên ngành, nhưng chỉ có ngành Chứng khoán có môn CKPS nhưng cũng chỉ là môn
tự chọn.

+ ĐH Kinh tế Đà Nẵng: Ngành Tài chính - Ngân hàng có 3 chuyên ngành nhưng chỉ có chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp có môn Công cụ tài chính phái sinh là môn bắt buộc.

+ ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội: cả 2 chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính doanh nghiệp đều chưa đưa vào giảng dạy môn CKPS một cách riêng biệt.

Từ tình hình thực tế của công tác tuyên truyền về CKPS và TTCKPS, một số giải pháp được đề xuất:

- Tăng cường phổ biến kiến thức cơ bản về CKPS và TTCKPS (trước mắt tập trung vào các sản phẩm sẽ đưa vào vận hành trước như hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu, hợp đồng tương lai trái phiếu; rủi ro khi giao dịch CKPS…) thông qua các website (đặc biệt các website cung cấp thông tin về chứng khoán cơ sở được truy cập thường xuyên như cophieu68.com, cafef.vn, fpts.com.vn…).

- Bên cạnh hình thức đào tạo/tuyên truyền trực tiếp, hình thức đào tạo từ xa/trực tuyến nên được UBCKNN áp dụng để tiết kiệm chi phí, mở rộng phạm vi và số lượng người học. Hiện nay, việc trang bị hệ thống máy tính và công nghệ thông tin của các thành viên thị trường, các cơ sở đào tạo… khá tốt, có thể tiếp nhận và sử dụng hình thức đào tạo này một cách dễ dàng. (Triển khai phát sóng các chương trình đào tạo, hướng dẫn cho các NĐT trên các kênh truyền hình, đặc biệt vào thời điểm giờ vàng - giờ phát sóng thu hút đông đảo
khán giả).

- Các trường đại học thuộc khối kinh tế nên cân nhắc đưa môn học Công cụ phái sinh vào các chương trình giảng dạy (môn học bắt buộc của chuyên ngành tài chính - ngân hàng, các chuyên ngành khác cũng nên đưa vào học phần tự chọn hoặc lồng ghép nội dung môn học này vào các môn học có liên quan).

3.2. Cơ chế chính sách

Một số giải pháp liên quan được đề xuất cho TTCKPS
Việt Nam:

- Quy định về thuế đánh trên lợi nhuận thu được từ việc đầu tư công cụ phái sinh có thể giảm tính thanh khoản, gây cản trở sự phát triển của thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam trong giai đoạn triển khai, nhất là đối với những công cụ phái sinh được sử dụng nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro để tối đa hoá lợi nhuận hơn là mục tiêu lợi nhuận từ việc đầu cơ CKPS. Do vậy, một cơ chế ưu đãi, miễn giảm thuế cho việc đầu tư CKPS có thể được áp dụng nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong giai đoạn thị trường còn khá mới mẻ với công chúng.

- Về chính sách phát triển hàng hóa giao dịch cho TTCKPS: Việt Nam sẽ vận hành TTCKPS với hai sản phẩm ban đầu là hợp đồng tương lai chỉ số (VN 30, HNX 30) và hợp đồng tương lai trái phiếu. Đây là bước đi thận trọng nhưng hợp lý trong bối cảnh Việt Nam chưa có kinh nghiệm nhiều đối với thị trường mới này. Giai đoạn tiếp theo, các sản phẩm CKPS khác nên được sớm triển khai (quyền chọn) như thông lệ của các nước trên thế giới. (Tháng 5/1996, lần đầu tiên hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán (KOSPI 200) được giao dịch trên TTCKPS Hàn Quốc. Sau đó, tháng 7/1997, các cơ quan quản lý ngành chứng khoán Hàn Quốc quyết định đưa thị trường quyền chọn KOSPI 200 vào hoạt động và đạt được nhiều thành công).

3.3. Điều kiện pháp lý và kiểm soát rủi ro

Để chuẩn bị cho TTCKPS vận hành tại Việt Nam, đến nay, hành lang pháp lý bao gồm Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển TTCKPS Việt Nam, Nghị định số 42/2015/NĐ-CP về CKPS và TTCKPS và Thông tư số 11/2016/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định số 42 đã được ban hành. Do vây, các điều kiện ban đầu cho việc hình thành TTCKPS như thành viên tham gia thị trường, công nghệ thông tin, quản lý, thanh tra giám sát, bù trừ, thanh toán CKPS… đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro và thúc đẩy sự phát triển của TTCKPS, một số giải pháp cần được chú trọng:

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến TTCKPS, nhất là những vấn đề liên quan đến việc hạch toán kế toán đối với các nghiệp vụ CKPS, nhanh chóng ban hành các quy định liên quan đến việc thiết lập các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, báo cáo tài chính thuyết minh, báo cáo tài chính có sử dụng công cụ phái sinh trên cơ sở kế thừa các chuẩn mực của kế toán quốc tế.

Hiện nay, có thể nhận thấy một số khác biệt cơ bản giữa Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) và Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) như: Cách thức trình bày báo cáo tài chính; Giá trị hợp lý; Công cụ tài chính; Suy giảm giá trị tài sản; Các vấn đề liên quan tới báo cáo tài chính hợp nhất; Doanh thu; Tài sản cố định, bất động sản, tài sản dài hạn nắm giữ để bán; Thanh toán bằng cổ phiếu…

- UBCKNN phối hợp với Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng toán trong lĩnh vực kinh tế, tài chính - ngân hàng (Fmathlab) nhanh chóng triển khai việc ứng dụng toán tài chính đối với TTCKPS, nhất là ứng dụng mô hình toán trong định giá và quản lý danh mục phái sinh, xây dựng được hệ thống các chỉ số đáng tin cậy, phản ánh đúng tình hình cung cầu của thị trường để có thể tham chiếu trong các giao dịch phái sinh.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Phạm Thị Bích Thảo (2015), “Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong giao dịch chứng khoán phái sinh tại Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, số tháng 11/2015

2. Võ Thị Phương (2016), “Phát triển thị trường chứng khoán phái sinh: Kinh nghiệm từ các nước Châu Á”, Tạp chí Tài chính, số tháng 5/2016

3. Ngô Thị Thùy Linh (2015), Thực trạng sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam trong phòng ngừa rủi ro, truy cập ngày 10/05/2016 http://www.saigonact.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=5739:thc-trng-s-dng-cong-c-tai-chinh-phai-sinh-vit-nam-trong-phong-nga-ri-ro-phn-cui-&catid=170&Itemid=425

4. Comptroller’s Handbook (2012), Risk Management of Financial Derivatives

5. Huynh T.P.T (2016), Factors affecting material misstatements in financial statements of Vietnamese listed companies, Research Paper, University of Economics, The University of Danang

6. Keffala, M. R. (2015), How using derivatives affects bank stability in emerging countries? Evidence from the recent financial crisis. Research in International Business and Finance, 35, 75-87

7. Ludger. H & Clifford. W. S (1995), Risk in Derivatives Markets, Financial Instution Center

8. Ludger. H & Clifford. W. S (1996), Controlling risk in Derivatives Market, Journal of Financial Engineering

9. Loon, Y. C., & Zhong, Z. K. (2014). The impact of central clearing on counterparty risk, liquidity, and trading: Evidence from the credit default swap market. Journal of Financial Economics, 112(1), 91-115

10. Thapa, C., Neupane, S., & Marshall, A. (2016). Market liquidity risks of foreign exchange derivatives and cross-country equity portfolio allocations. Journal of Multinational Financial Management, 34, 46-64

 

 

1 Trường ĐH Kinh tế, Đại học Đà Nẵng


  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Tạp chí Ngân hàng
CÁC TIN KHÁC
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
23/04/2025
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
18/04/2025
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
10/04/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
31/03/2025
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
28/03/2025
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
28/03/2025
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
28/03/2025
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
18/03/2025
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
18/03/2025
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
18/03/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready