Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai
PGS.,TS. Nguyễn Văn Hiệu1
Đã có nhiều dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới và Việt Nam trong ngắn hạn và trung hạn dựa trên phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản. Tuy nhiên, tăng trưởng là một ẩn số phụ thuộc đa biến tích hợp ảnh hưởng của nhiều nhân tố có tác động khác nhau, đôi khi cộng hưởng, triệt tiêu và khuyếch đại theo những diễn biến phức tạp. Nhận diện những nhân tố ảnh hưởng giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn khách quan hơn về khả năng tác động của chúng tới xu hướng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong tương lai (viễn cảnh trung hạn) là cần thiết bên cạnh những dự báo định lượng được công bố bởi các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước.
1. Mô hình tăng trưởng bền vững từ kinh nghiệm thế giới
Vũ Minh Long và cộng sự (2014)1 đã dẫn lại nghiên cứu của Spence và cộng sự (2008) từ Báo cáo Tăng trưởng của Ủy ban Phát triển và Tăng trưởng thế giới chỉ có 13 quốc gia và vùng lãnh thổ đạt được mức tăng trưởng bền vững trên
7%/năm trong vòng 25 năm. Đây là thành tích đáng được ghi nhận và tổng kết thành bài học kinh nghiệm cho các quốc gia đang phát triển. Theo Báo cáo Tăng trưởng, 5 nhân tố cơ bản làm nên sự phát triển bền vững của các quốc gia này là: (i) tôn trọng sự phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường và minh bạch hóa; (ii) có tầm định hướng tương lai rõ ràng, nhất quán; (iii) tích cực mở cửa và hội nhập kinh tế; (iv) duy trì sự bình ổn kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp và điều hành tài chính công hợp lý; và (v) quản lý nhà nước hiệu quả (hình 1).
Hình 1: Các nhân tố tạo nên sự tăng trưởng bền vững
Nguồn: Spence và cộng sự (2008)(1)
Dựa trên mô hình tăng trưởng của Spence ít nhất có thể hình dung được các nhân tố định tính góp phần tạo khuôn cho xu hướng tăng trưởng và phát triển của một quốc gia dựa trên các chiến lược và các chính sách mà quốc gia đó theo đuổi, đồng thời, cũng có thể thấy được các nhân tố đặc trưng của mỗi nền kinh tế ảnh hưởng theo hướng nào đến tốc độ và tính chất tăng trưởng của quốc gia đó. Những nhân tố và đặc trưng này sẽ được phân tích cụ thể hơn ở phần sau.
Tiếp cận từ các nhân tố đầu vào của tăng trưởng, nhà kinh tế học YiLi Chien (2015) đã phân tích mức độ ảnh hưởng của vốn, lao động và công nghệ đến tăng trưởng của 9 nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới dựa trên các số liệu thu thập được từ 1990 đến 2013 và cho thấy một bằng chứng thực nghiệm rất rõ ràng rằng: có mối quan hệ thuận giữa tốc độ tăng trưởng GDP và sự phát triển công nghệ với hệ số tương quan 0,6; trong khi thực tế tồn tại mối quan hệ nghịch giữa tốc độ tăng trưởng GDP với nhân tố lao động (hệ số tương quan -0,68) và vốn (hệ số tương quan -0,3). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm này khẳng định, giả thuyết không thể cải thiện tốc độ tăng trưởng GDP nếu chỉ dựa vào sự thâm dụng về vốn và lao động mà phải dựa nhiều hơn vào sự phát triển của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), trong đó, quan trọng nhất là sự phát triển của công nghệ. Đây là điều không dễ dàng có được đối với các nước đang phát triển.
Một nghiên cứu khác, trong khuôn khổ của ADB, Jong-Wha Lee và Kiseok Hong (2010) đã lượng hóa sự ảnh hưởng của 4 nhân tố: lao động, vốn, giáo dục và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam và thấy rằng, sự đóng góp của các nhân tố truyền thống như vốn, lao động và cả giáo dục vào tăng trưởng kinh tế ngày càng giảm, trong khi sự ảnh hưởng của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp càng tăng mặc dù kinh tế khu vực châu Á được coi là khu vực kinh tế năng động với những lợi thế lớn về lao động, về thu hút vốn đầu tư nước ngoài và giá trị gia tăng do giáo dục mang lại. Việt Nam cũng là nước không nằm ngoài xu hướng này và dự báo sự phân hóa của các nhân tố này càng ngày càng sâu sắc hơn nữa cho các giai đoạn tiếp theo (hình 2).
Hình 2: Sự ảnh hưởng của các nhân tố tới tăng trưởng kinh tế Việt nam qua các giai đoạn theo nghiên cứu của ADB
Nguồn: Economic Growth in Asia: Determinants and Prospects (ADB Economics Working Paper Series No. 220)
Dựa vào các nghiên cứu điển hình trên đây về mô hình tăng trưởng và các nhân tố ảnh hưởng, nếu nhận diện được chúng một cách tin cậy thì có thể hình dung xu hướng phát triển và tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong thời gian tới đây sẽ đi theo hướng nào.
2. Nhận diện các nhân tố có ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong trung hạn
Các nhân tố tích cực
(i) Ảnh hưởng tích cực từ hội nhập kinh tế quốc tế.
Một trong những nhân tố đảm bảo sự tăng trưởng bền vững đã được nêu trên là chính sách hội nhập nhất quán vào nền kinh tế thế giới. Tất nhiên, hội nhập không phải không có giá phải trả song xét về tác động cuối cùng, hội nhập kinh tế sâu rộng mang lại nhiều lợi ích hơn là thiệt hại, nhất là đối với các nước đang phát triển. Việt Nam bắt đầu tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới kể từ khi chính thức tham gia vào WTO (2007), nhờ đó có điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu ở hầu hết các khu vực. Năm 2015 đánh dấu một bước phát triển mới đẩy tiến trình hội nhập lên một tầm mức cao hơn bằng việc ký kết hàng loạt các hiệp định kinh tế thế hệ mới. Điển hình là các Hiệp định hợp tác Việt Nam - EU, Hiệp định Thương mại Tự do khu vực ASEAN và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA)… Đây là những hiệp định được coi là sẽ tạo sự bứt phá mạnh trong tăng trưởng của kinh tế Việt Nam nếu như những lợi thế được tận dụng triệt để. Theo đánh giá của các chuyên gia và các tổ chức quốc tế, AEC có thể mang lại cho Việt Nam xấp xỉ 3 điểm % tăng trưởng nhờ tác động gộp của tự do hóa thuế quan, tự do hóa thương mại và tự do hóa dịch vụ (Itakura, 2013). Trong khi tác động tăng trưởng của việc tham gia RCEP và VN-EU được dự báo là 10,5; 5 và 2 điểm phần trăm. Một nghiên cứu khác của Viện Kinh tế và Chính sách - Đại học Kinh tế - ĐHQGHN cho thấy, hậu AEC, Việt Nam là nước thu lợi lớn nhất dưới góc độ ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng GDP và đầu tư, xuất khẩu nhập khẩu đặc biệt trong một số ngành như may mặc, giày da (VERP, 2015). Con số đóng góp cụ thể vào tăng trưởng có thể còn gây tranh cãi, tuy nhiên, tác động tích cực vào tăng trưởng của Việt Nam khi tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đều được khẳng định qua các kết quả nghiên cứu định tính và định lượng.
(ii) Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ quốc tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự tăng trưởng của một quốc gia. Nó là sản phẩm của việc duy trì và kiên định chính sách mở cửa kinh tế và gọi vốn đầu tư và công nghệ quốc tế. Theo đánh giá của ADB, trong vòng 30 năm qua, GDP của các nước đang phát triển khu vực châu Á đã tăng 7,5 lần (tính theo sức mua tương đương) - cao hơn mức tăng trung bình của thế giới là 3 lần; thu nhập bình quân đầu người khu vực châu Á tăng hơn 4 lần trong khi thu nhập bình quân đầu người thế giới chỉ tăng tương đương 2 lần và dự kiến đến năm 2030, kinh tế khu vực châu Á sẽ chiếm 2/3 quy mô kinh tế thế giới. Một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự tăng trưởng nhanh của khu vực này là sự gia tăng nhanh và chưa có xu hướng dừng lại của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong 10 năm qua, Việt Nam vẫn duy trì mức thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bình quân 15 – 20 tỷ USD vốn đăng ký mỗi năm (vốn đăng ký đặc biệt cao vào năm 2008 - trên 60 tỷ USD). Khi hội nhập quốc tế sâu hơn, Việt Nam còn được hưởng lợi hơn nữa dòng vốn FDI vì các hiệp định này sẽ tiếp tục khơi thông dòng vốn sẵn có tại các nước trong khối vốn đã có quan hệ với Việt Nam. Song song với sự gia tăng của FDI là tác động lan truyền của công nghệ quốc tế sẽ được chuyển giao chính thức và phi chính thức vào các ngành sản xuất tương ứng của Việt Nam. Đây là một trong những nhân tố cơ bản ngày càng có vai trò quan trọng đóng góp vào sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong tương lai.
(iii) Môi trường kinh tế vĩ mô, cam kết của Chính phủ và sự ổn định chính trị
Về môi trường kinh tế vĩ mô, Việt Nam đã có sự chủ động ổn định vĩ mô khá tốt trong vòng 5 năm trở lại đây với tỷ lệ lạm phát giữ ở mức thấp, tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt theo hướng ổn định, dự trữ ngoại hối có xu hướng vững chắc hơn. Đây là điều kiện quan trọng để kinh tế phát triển trong điều kiện ngày càng mở và hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Các mối quan hệ kinh tế vĩ mô được dự đoán sẽ tiếp tục được giữ cân bằng trong tương lai sẽ là điều kiện tốt để thúc đẩy tăng trưởng và đón nhận dòng vốn FDI.
Về cam kết của Chính phủ, đã có những dấu hiệu cho thấy Chính phủ mới cam kết mạnh mẽ hơn với cải cách hành chính nói chung và cải cách hành chính đối với doanh nghiệp nói riêng. Nhiều rào cản đối với doanh nghiệp đã bước đầu được dỡ bỏ, các doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh hơn và đặc biệt đang dấy lên một trào lưu khởi nghiệp được khuyến khích bởi Chính phủ. Nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp đang được cải thiện dần theo hướng công khai, minh bạch và giảm gánh nặng. Việc hạ mức thuế thu nhập doanh nghiệp xuống còn 20% kể từ 01/01/2016 và 17% áp dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một minh chứng cho thấy một Chính phủ kiến tạo đang hình thành coi trọng sự phát triển của các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước. Bên cạnh đó, xu hướng Chính phủ không còn dành nhiều đặc quyền đặc lợi cho các doanh nghiêp nhà nước và quyết tâm đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước ở các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối là một dấu hiện tiến bộ trong tư duy quản lý kinh tế hiện đại theo hướng tôn trọng kinh tế thị trường. Những cam kết của Chính phủ đối với cộng đồng các doanh nghiệp nội địa cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố được coi là sẽ tạo ra một cú huých mới cho sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai.
Hệ thống chính trị được nhận định sẽ tiếp tục ổn định. Những thay đổi trong việc tự nhận thức đường lối lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới cũng như những tín hiệu tích cực của việc kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng của đội ngũ lãnh đạo cấp cao trong Đảng và Chính phủ ít nhiều cho thấy niềm tin của cộng đồng và dân chúng tiếp tục được củng cố. Hơn nữa, những chính sách hội nhập và quyết tâm theo đuổi nền kinh tế thị trường với sự khuyến khích sự phát triển của kinh tế tư nhân sẽ là một trong những nhân tố tạo sự ổn định tâm lý đầu tư và ý chí làm giàu chính đáng, nhờ đó mà trật tự xã hội, an ninh chính trị sẽ được hưởng lợi và hy vọng vào sự ổn định của hệ thống chính trị là hoàn toàn có cơ sở.
(iv) Nguồn lao động dồi dào giá rẻ
Việt Nam là một trong số ít nước có thế hệ dân số vàng với khoảng gần 50 triệu lao động trong độ tuổi được đào tạo tương đối tốt nhưng mức lương trung bình so với mặt quốc tế là khá thấp (thấp hơn khoảng 30% so với Trung Quốc, Ấn Độ). Nhìn thấy lợi thế này, gần đây nhiều hãng điện tử, công nghệ cao trên thế giới đã chuyển hướng đầu tư vào Việt Nam với những dự án hàng tỷ USD thay vì vào Trung Quốc hay các quốc gia truyền thống ở khu vực Đông Nam Á. Diễn biến phân luồng đào tạo tích cực trong mấy năm gần đây ở Việt Nam theo hướng chuyển mạnh hơn vào đào tạo nghề và công nhân kỹ thuật thay vì đổ xô học đại học, cao học được kỳ vọng là sẽ khắc phục tình trạng thừa thầy thiếu thợ vốn tồn tại trong một thời kỳ dài. Đội ngũ công nhân lành nghề sau khi hết thời hạn xuất khẩu lao động ở các nước phát triển cũng là một xu thế mới bổ sung cho chất lượng của đội ngũ lao động ở nước ta. Hơn nữa, điều khoản tự do di chuyển lao động trong khối các nước thuộc cộng đồng kinh tế ASEAN là một nhân tố khác có tác động tích cực tới lực lượng lao động ở Việt Nam trong những thập niên tới. Sự cải thiện về chất lượng lao động với lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công thấp là một lợi thế quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam.
(v) Những nhân tố khác
Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, đặc biệt tài nguyên biển cũng là một trong những lợi thế cho kinh tế Việt Nam phát triển nếu biết khai thác và sử dụng hợp lý theo nguyên lý bền vững. Trong tương lai, tài nguyên du lịch và tín ngưỡng nổi lên là một tiềm năng lớn với lợi thế bờ biển dài, có nhiều đảo gần bờ cùng với sự mở rộng đầu tư các khu nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp sẽ là điều kiện để thu hút lượng lớn du khách quốc tế. Ngành du lịch hứa hẹn sẽ là ngành phát triển tiềm năng nhất khi mà các thiên đường du lịch truyền thống ở châu Á bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn chính trị và an ninh.
Thói quen tiết kiệm cao của dân chúng cũng là một lợi thế tích lũy vốn cho phát triển. Đây là đặc điểm chung của các quốc gia Đông Á. Do trình độ phát triển và mức sống còn hạn chế, hiệu ứng đòn bẩy từ tiết kiệm của Việt Nam được nhận định sẽ có tác động lớn hơn tạo ra sức phát triển mạnh hơn2.
Ngoài ra, một số nhân tố khác như sự duy trì và gia tăng lượng kiều hối, sự đoàn kết của dân tộc Việt, sự hướng quốc của cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài, cam kết trợ giúp của các nước phát triển, của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trên trên thế giới cũng là những nhân tố tích cực tiếp tục có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong những năm tiếp theo.
Những vấn đề còn hạn chế, cần hoàn thiện
(i) Hệ thống luật pháp và thể chế chưa đầy đủ và hoàn thiện
Thể chế kinh tế thị trường chưa được hoàn thiện. Do hạ tầng kiến trúc chưa được hoàn thiện nên thượng tầng kiến trúc nói chung và hệ thống luật pháp nói riêng chưa được đầy đủ và hoàn thiện. Nhiều quan hệ kinh tế, chính trị, trách nhiệm và quyền lợi của các chủ thể, cá nhân trong xã hội, của người Việt Nam và của người nước ngoài ở Việt Nam còn chưa được đầy đủ và hoàn thiện.
(ii) Năng lực quản lý còn hạn chế
Năng lực quản lý thể hiện ở năng lực ban hành chính sách, năng lực thực thi chính sách hiệu quả và năng lực quản lý sự thay đổi trong một thế giới thay đổi với tốc độ ngày càng nhanh. Năng lực quản lý ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động tiếp tục sẽ là một thách thức cho tiến trình phát triển kinh tế của nước ta.
Năng lực quản lý còn thể hiện ở bộ máy quản lý. Theo thống kê, hiện cả nước có khoảng 400.000 công chức nhà nước (không kể lực lượng vũ trang); khoảng 2,3 triệu viên chức thuộc các đơn vị sự nghiệp và khoảng 1,2 triệu cán bộ bán chuyên trách hoạt động ở cấp chính quyền xã. Tính tổng số có đến hơn 10 triệu người hưởng lương ngân sách. Việc tinh giản biên chế là hết sức khó khăn. Đây là một trong những thách thức cho phát triển kinh tế khi mà chi phí đóng góp để nuôi bộ máy hành chính là quá lớn.
(iii) Nợ công tăng nhanh, bội chi ngân sách, hiệu quả đầu tư chưa cao
Mặc dù có nhiều tranh luận về các con số nợ công song không thể phủ nhận một điều là nợ công ở nước ta đã tăng quá nhanh và đã gần cán mức giới hạn tối đa cho phép. Trong vòng 10 năm nợ công đã tăng gần gấp 3 lần từ 22,7% GDP lên mức trên 60 % GDP vào năm 2015 và dự kiến lên sát 65% GDP vào năm 2016. Trong khi đó, bội chi ngân sách cũng liên tục tăng. (Hình 3)
Hình 3: Bội chi ngân sách và nợ công 2006 – 2015
(Nguồn Vn Express – 2016)
Nợ công tăng nhanh, trong khi hiệu quả đầu tư công chưa cao là một nghịch lý tồn tại nhiều năm nay. Nhiều dự án đầu tư công hiệu quả thấp. Mặc dù vậy, ước tính cả nước mỗi năm có đến 300.000 dự án đầu tư công các cấp. Đây cũng là vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững trong tương lai.
(iv) Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, cạn dần về tài nguyên
Một trong những đặc tính của mô hình nhà nước phát triển là quá chú trọng vào tăng trưởng nên có xu hướng khai thác cạn kiệt tài nguyên, khả năng kiểm soát công nghệ bẩn, lạc hậu; khả năng kiểm soát chất thải công nghiệp chưa tốt nên ô nhiễm môi trường là căn bệnh cố hữu nhiều quốc gia vấp phải. Hậu quả của việc ô nhiễm môi trường sống là một trong trong những cái giá phải trả, nhiều khi còn lớn hơn lợi ích từ tăng trưởng theo kiểu thâm dụng tài nguyên và sử dụng công nghệ giá rẻ. Sự cố Formosa vừa qua có thể vừa là một ví dụ tốt để cơ quan công quyền thay đổi cách nhìn nhận về cái giá của sự tăng trưởng cũng như rút ra bài học kinh nghiệm cho tương lai.
Một nhân tố khác có tầm ảnh hưởng không nhỏ là tác động của biến đổi khí hậu. Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới lại chạy dọc theo bờ biển nên ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu là rất lớn. Theo dự báo, có đến 2/3 diện tích đất nông nghiệp thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập mặn do biến đổi khí hậu và do tác động của việc chặn dòng chảy của sông Mekong để làm thủy điện của các nước thượng nguồn. Những tác động này cũng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt lĩnh vực nông, lâm thủy sản của Việt Nam.
(v) Sự chênh lệch về thu nhập và các nhân tố khác
Bất bình đẳng gia tăng là nhận định của nhiều nghiên cứu trên thế giới trong thời gian gần đây. Tại hội nghị Davos (2015), tổ chức từ thiện Oxfam đã dự đoán không lâu nữa 1% những người giàu nhất sẽ chiếm giữ 99% toàn bộ của cải của xã hội. Sự gia tăng cách biệt giữa các nước giàu và nước nghèo càng có xu hướng giãn rộng. Điều này đã được khẳng định bởi nghiên cứu của Dani Rodrik (2013 - Global Citizen Foundation).
Hình 4: Bất bình đẳng giữa các quốc gia và trong nội bộ quốc gia
(1820 – 2005)
Nguồn: Dani Rodrik (2013)
Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê, vào thời điểm năm 2000, hai mươi phần trăm dân số có thu nhập cao nhất gấp 7,6 lần so với 20% dân số có thu nhập thấp nhất. Con số này vào thời điểm năm 2010 đã là 9,2 lần và được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng. Sự hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, biến đổi khí hậu, số lượng vốn đầu tư thấp, ô nhiễm môi trường, tài nguyên thiên nhiên bị cạn dần sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới đối tượng nông dân, nông thôn và lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi.
Ngoài ra, do các rào cản quốc tế ngày càng nới lỏng, nguồn lực di chuyển dễ dàng hơn giữa các quốc gia nên xu hướng kiếm tiền ở một nơi, hưởng thụ tại một chỗ khác sẽ ngày càng phổ biến. Các nước xuất khẩu tư bản và công nghệ có xu hướng chuyển các hoạt động sản xuất kinh doanh sang các nước đang phát triển hoặc các nước nghèo để thu lợi song phần lớn lợi ích sẽ được chuyển về nước chủ nhà để thụ hưởng. Xu thế này thậm chí còn xuất hiện ngay cả ở tầng lớp trung lưu của các nước nghèo.
3. Kết luận
Bên cạnh các yếu tố tích cực thì các yếu tố có ảnh hưởng bất lợi đến phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai. Về mặt định lượng, khó có thể đánh giá được mức độ tác động của các nhân tố một cách chính xác và do đó cũng khó có thể đánh giá được tác động cuối cùng là tích cực hay tiêu cực, vì nó còn phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan và cơ hội tận dụng được của Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và cả những lực lượng quốc tế với những diễn biến và tình hình địa chính trị cụ thể. Tuy nhiên, xét về bối cảnh, chưa bao giờ Việt Nam có cơ hội hiện hữu như bây giờ. Cùng với việc kiên định đường lối kinh tế thị trường kết hợp với việc theo đuổi chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện năng lực quản lý nhà nước..., các nhân tố tích cực được kỳ vọng sẽ lấn át và chế ước các nhân tố tiêu cực. Hy vọng rằng, Việt Nam sẽ có được giai đoạn cất cánh mới trong tương lai để trở thành một trong những con hổ thế hệ mới ở khu vực Đông Nam Á.
1 Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội
1 Dẫn lại từ Nguyễn Đức Thành và Vũ Minh Long (2014).
2 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Barro và Sala-i-Martin (2003) cho rằng những nước có xuất phát điểm thu nhập thấp sẽ có sức phát triển nhanh hơn do tận dụng được lợi thế về cơ sở vật chất, vốn và công nghệ của loài người. Do vậy, hiệu quả đòn bẩy từ tiết kiệm của các nước nghèo sẽ cao hơn các nước có trình độ phát triển cao. Điều này cũng được ủng hộ bởi các bằng chứng thực nghiệm khi so sánh tốc độ phát triển giữa các nước có trình độ phát triển khác nhau qua các thời kỳ.
Tài liệu tham khảo:
1. Vũ Minh Long (chủ biên), 2014. Một số vấn đề của kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Nguyễn Đức Thành và cộng sự, 2015. The Impacts of TPP and AEC on the Vietnamese Economy: Macroeconomic Aspects and the Livestock Sector. Tài liệu nghiên cứu công bố trên Website của VEPR.
3. Asian Development Outlook 2015: Financing Asia’s Future Growth
4. Jong-Wha Lee and Kiseok Hong (2010), Economic Growth in Asia: Determinants and Prospects, Working Paper, ADB.
5. Dani Rodrik (2013), The Past, Present, and Future of Economic Growth. Working Paper