Trước ảnh hưởng trầm trọng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, Chính phủ các nước đã đưa ra hàng loạt các giải pháp trong đó phải kể tới các gói kích thích nhằm ngăn chặn đà suy thoái. Không nằm ngoài xu thế chung, ngày 3/12 Chính phủ Việt Nam đã công bố gói kích cầu trị giá 1 tỷ USD. Gói kích thích này được đưa ra đúng vào thời điểm các doanh nghiệp đang hết sức khó khăn, nền kinh tế đang có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại. Đây là một động thái rất kịp thời của Chính phủ được các tầng lớp nhân dân và các nhà kinh tế đánh giá cao. Bên cạnh việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này, một vấn đề được đặt ra là việc nguồn vốn tài trợ nên lấy từ đâu?
1. Tình hình kinh tế Việt Nam trước khi quyết định ra gói kích thích 1 tỷ USD:
Sau một giai đoạn tăng mạnh từ cuối năm 2007 đến tháng 9/2008, CPI đã tăng chậm lại và có xu hướng giảm dần từ tháng 10/2008, đến tháng 11 năm nay CPI đạt 147,07 tăng 24,2% so với cùng kì năm ngoái nhưng giảm 0.76% so với tháng trước. Bên cạnh đó có thể thấy tăng trưởng GDP của Việt Nam chậm dần theo quý từ đầu năm 2008 đến nay, tăng trưởng quý I là 7,95%; quý II là 6,2%; quý III là 6,48%. Điều này cho thấy tốc độ tăng trưởng của Việt Nam đang chậm lại. Nguyên nhân phần lớn là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu khiến thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, hàng hoá nước ta lại chủ yếu xuất sang các thị trường bị ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng này như Mỹ, Châu Âu.
Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đội ngũ doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 96,5% trong tổng số gần 350.000 doanh nghiệp cả nước; hàng năm đóng góp khoảng 40% GDP, thu hút 50% tổng số lao động trong khu vực doanh nghiệp.
Những tháng đầu năm 2008, giá nguyên vật liệu như xi măng, sắt thép tăng vọt, nhưng đến những tháng gần đây giá cả các mặt hàng này giảm giá rất mạnh. Điển hình như giá sắt thép, từ tháng 5 đến nay, giá đã giảm tới 50% do giá thép trên thế giới giảm mạnh và nhu cầu trong nước cũng ít đi. Thị trường bất động sản đóng băng, hàng loạt dự án xây dựng phải dừng, giãn tiến độ khiến cho giá xi măng cũng giảm mạnh. Nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước giảm đã khiến một số mặt hàng phải cắt giảm sản lượng, ví dụ như cuối tháng 10, dầu thô khai thác chỉ bằng 86,3%, than khai thác giảm 8,5%, vải dệt giảm gần 5%, giấy bìa giảm 4,5%, thép tròn chỉ bằng 59,1%, biến thế điện giảm 13,9%, tivi giảm 5,8%… so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 4 tháng cuối năm kim ngạch xuất khẩu giảm bình quân 400 triệu USD/tháng so với mức bình quân 8 tháng trước đó. Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong 3 quý đầu năm mới chỉ đạt 18%, bằng 60% kế hoạch đề ra, ngân hàng dư thừa vốn khả dụng nhưng rất khó tìm được dự án khả thi để cấp tín dụng.
Thị trường hàng hoá trong nước có thể bị chiếm lĩnh bởi các nước khác đặc biệt là Trung Quốc khi mà hàng hoá các nước này mất thị trường béo bở ở Mỹ và các nước Châu Âu sẽ chuyển hướng sang các nước có thị trường mới như nước ta.
Nhìn nhận được tình hình căng thẳng trên, Chính phủ đã có những động thái tích cực và kịp thời khi tung ra gói kích thích 1 tỷ USD nhằm kích thích sản xuất và nhu cầu tiêu dùng, tạo động lực cho Việt Nam phát triển bền vững.
2. Các nguồn vốn để kích cầu
Theo thông báo gần đây của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, gói kích thích này sẽ được lấy từ ba nguồn chính:
- Nguồn thứ nhất là từ phát hành Trái phiếu Chính phủ. Nguồn này được sử dụng để đầu tư vào những công trình mục tiêu như trường học, bệnh viện, cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi và các công trình nhà ở xã hội.
- Nguồn thứ hai là Chính phủ sẽ miễn giảm, hoãn, chậm thu thuế để các doanh nghiệp có nguồn đầu tư.
- Nguồn thứ ba là Chính phủ sẽ sử dụng quỹ dự trữ nhà nước để đầu tư cho một số mục tiêu hỗ trợ sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm để thúc đẩy tiêu dùng.
Như vậy nguồn vốn để cung cấp cho gói kích cầu của Chính phủ được lấy từ ba nguồn lớn đó là phát hành trái phiếu Chính phủ, chính sách cắt giảm thuế và quỹ dự trữ nhà nước. Chúng ta sẽ xem xét mặt được và mất của các nguồn này khi sử dụng để kích cầu trong nước.
2.1. Trái phiếu Chính phủ
Nguồn vốn này được huy động bằng cách Chính phủ sẽ phát hành Trái phiếu ra thị trường trong nước để thu hút một lượng tiền từ nền kinh tế. Vấn đề mấu chốt trong đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ lần này là lãi suất. Khi NHNN đang điều chỉnh lãi suất theo xu hướng thấp dần nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vay vốn thì việc đưa ra một mức quá cao cho lãi suất trái phiếu sẽ đi ngược lại mục tiêu này. Nhưng nếu lãi suất quá thấp sẽ làm giảm tính hấp dẫn của Trái phiếu khiến việc huy động vốn gặp khó khăn. Một vấn đề khác Chính phủ cũng cần quan tâm khi phát hành trái phiếu để vay vốn từ nền kinh tế đó chính là khả năng và nguồn trả nợ trong tương lai. Theo Phó Thủ tướng cho hay thì nguồn vốn này sẽ được sử dụng vào chi tiêu công. Đây là lĩnh vực lâu nay vẫn được xem là hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Do vậy Chính phủ cần lựa chọn dự án đầu tư sao cho có hiệu quả, tránh lãng phí. Có như vậy mới bớt được gánh nặng thâm hụt cho ngân sách quốc gia.
Bên cạnh những điều cần lưu ý trên, đổi lại nguồn vốn này có ưu điểm là khá dễ thu hút trong thời điểm này. Số tiền 1 tỷ USD (dự kiến có thể lên tới 6 tỷ) chỉ được xem là “vốn mồi” bởi so với các nước khác trên thế giới gói kích thích của nước ta còn khá nhỏ (chỉ chiếm 1,2% GDP trong khi các nước khác như Mỹ và Trung Quốc chiếm đến 5% GDP). Thêm vào đó, tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước hiện nay có rất nhiều biến động gây tâm lý hoang mang lo sợ cho các nhà đầu tư. Đặc biệt là sau hàng loạt vụ đổ vỡ của các ngân hàng lớn trên thế giới thì hiện nay yếu tố an toàn được các NHTM đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, Trái phiếu Chính phủ sẽ là kênh đầu tư hấp dẫn, các đợt phát hành trái phiếu sẽ đảm bảo được tiến độ đề ra và lượng tiền cần thiết.
2.2. Chính sách cắt giảm thuế
Việc cắt, giảm, hoãn, nộp chậm thuế cho các đối tượng sản xuất kinh doanh là một biện pháp tài khoá khá tích cực nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp. Theo kế hoạch Nhà nước sẽ tiến hành các chính sách như giảm thuế, miễn thuế và lùi thời hạn nộp thuế. Đối với VAT thì sẽ hoàn trước kiểm sau, đối với thuế nhập khẩu thì giãn thời gian nộp thuế, ân hạn thuế cho các doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp trẻ sẽ có bậc ưu tiên cao hơn, mức giảm sâu hơn. Với biện pháp này, Nhà nước đã chủ động cắt giảm một khoản thu khá lớn của Ngân sách để thực hiện mục tiêu của gói kích thích. Các doanh nghiệp được ưu đãi về thuế sẽ bớt đi một phần chi phí, điều này sẽ khiến lợi nhuận của họ cao hơn, tăng lượng vốn tái đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, giảm giá thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh. Đi kèm với việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn ưu đãi thì đây là một đòn bẩy hữu hiệu nhằm kích thích khu vực sản xuất kinh doanh thoát khỏi tình trạng đình đốn.
Ngân sách Chính phủ của Việt Nam đang thâm hụt lớn, thêm vào đó nguồn thu trong tương lai sẽ giảm đáng kể do sự thu hẹp của nguồn thu từ hoạt động xuất khẩu. Do đó, việc áp dụng chính sách cắt giảm thuế cùng với tăng chi tiêu Chính phủ để kích cầu sẽ tăng thêm gánh nặng thâm hụt cho ngân sách. Tuy nhiên với mục tiêu hiện nay là ngăn chặn đà suy giảm kinh tế thì Chính phủ không nên quá lo lắng về thâm hụt ngân sách bởi chính sách cắt giảm thuế đồng thời tăng chi tiêu công vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động vừa tạo ra nền tảng hạ tầng tốt hơn cho nền kinh tế, từ đó thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài. Để tăng thu cho ngân sách, Chính phủ có thể tăng thu tại khu vực thuế tài nguyên như xăng dầu… Thị trường xăng dầu trong nước ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố bất lợi từ sự suy thoái toàn cầu. Nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này vẫn rất cao. Không những thế ngành xăng dầu còn được lợi khi nhập khẩu xăng dầu bởi giá dầu trên thế giới tụt dốc không phanh từ 147,27 USD/ thùng vào tháng 7/2008 xuống còn 33 USD/ thùng vào ngày 20/12/2008, mức thấp nhất kể từ năm 2004 tới nay.
2.3. Quỹ dự trữ ngoại hối
Nguồn vốn lấy ra từ Quỹ dự trữ ngoại hối có ưu điểm là có thể chủ động huy động được lượng tiền lớn trong khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên việc sử dụng nguồn vốn này có nhiều vấn đề cần xem xét.
Quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước được tạo ra nhằm các mục tiêu là: (i) thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá (ii) duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối đề phòng khủng hoảng tài chính; (iii) tạo ra một khoản tài sản dự trữ của Nhà nước nhằm duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán các nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, can thiệp để ổn định tỷ giá, đảm bảo ổn định về kinh tế vĩ mô và (iv) dự trữ cho trường hợp khẩn cấp và thảm hoạ mang tính quốc gia.
Để đáp ứng cho những mục tiêu này, Quỹ dự trữ ngoại hối phải đảm bảo duy trì được một lượng ngoại tệ tối thiểu cần thiết theo thông lệ quốc tế là 12 tuần nhập khẩu. Tuy dự trữ nước ta đã đáp ứng được yêu cầu này nhưng quy mô còn nhỏ. Trong khi đó, cùng với mức tăng trưởng GDP, nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu cũng tăng theo. Do chủ trương tự do hoá về vốn, lượng vốn ra vào nước ta sẽ ngày càng nhiều nên phải chủ động để đón nhận những nguồn vốn lớn di chuyển trong thị trường. Quy mô dự trữ quốc gia sẽ phải tương xứng với nhu cầu phát triển của nền kinh tế để kịp thời can thiệp. Khi sử dụng Chính phủ nên cân nhắc đến các nguồn ngoại tệ có thể bổ sung cho quỹ trong tương lai. Trong thời gian tới đây, do suy thoái kinh tế toàn cầu, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bị thu hẹp hơn trước nên nguồn ngoại tệ bổ sung cho Quỹ dự trữ sẽ khó khăn. Do vậy, mỗi một quyết định sử dụng nguồn từ quỹ này nên được xem xét kỹ lưỡng nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu nêu trên.
Từ những luận điểm trên có thể thấy rằng mục tiêu của gói kích thích tăng trưởng là hoàn toàn chính đáng nhưng vấn đề lấy nguồn tài trợ từ đâu và sử dụng thế nào cần phải được cân nhắc thật kỹ lưỡng và với tầm nhìn dài hạn.
Ngọc My