Ngày 6/6/1975 Hội đồng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam đã ra Nghị định số 04/PCT-75 thành lập NHQG Việt Nam. Nghị định cho thấy NHQG Việt Nam, tuy có tên giống như NHQG cũ, nhưng đó là công cụ của Đảng và Nhà nước, lập ra để thực hiện nhiệm vụ cải tạo và xây dựng kinh tế miền Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lịch sử đã chứng minh tính linh hoạt và đúng đắn của việc thành lập NHQG này.
Chủ động nên tiếp quản thành công
Theo lời kể của ông Lữ Minh Châu, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng – Tổng giám đốc NHNN Việt Nam; nguyên Trưởng Ban Quân quản Ngân hàng Sài Gòn – Gia Định, Giám đốc Ngân hàng Quốc gia (NHQG) Sài Gòn – Gia Định từ 30/4/1975 (xin gọi là bác Ba Châu), ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột đầu tháng 3/1975, bác đã được Trung ương Cục gọi ra căn cứ.
Ông Lữ Minh Châu
Nguyên hồi ấy bác đang hoạt động nội thành, với trọng trách Phó Ban Tài chính đặc biệt trong vỏ bọc là cán bộ một ngân hàng ngụy quyền Sài Gòn. Chính Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng (nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) đã giao nhiệm vụ cho bác bí mật nắm chắc hệ thống ngân hàng ngụy quyền Sài Gòn – Gia Định, đặc biệt là NHQG, bộ máy phát hành tiền, kho tiền và kim khí quý… để đón quân giải phóng vào chốt giữ.
Cuối buổi làm việc, ông Phạm Hùng động viên: “Thường vụ Trung ương Cục đã cân nhắc kỹ trước khi giao thêm nhiệm vụ này cho đồng chí. Báo để đồng chí biết, Đảng quyết tâm hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc sớm hơn dự định. Các đồng chí hãy cố gắng lên, thời cơ đang đến rồi”.
Trở vào Sài Gòn, Ban Tài chính đặc biệt ráo riết thực hiện nhiệm vụ được giao. Phấn khởi lắm, vì suốt từ đó tin chiến thắng cứ dồn dập dội về. Bác Ba cho biết, từ năm 1970, bác đã phải vào Sài Gòn để tổ chức lại mạng lưới tài chính bí mật của Trung ương Cục.
Lần ấy, ông Phạm Hùng cũng trực tiếp giao nhiệm vụ cho bác. Đó là “phải tìm mọi cách xâm nhập vào NHQG ngụy quyền để, một là cắm sâu, leo cao, trở thành một quan chức trong ngành Ngân hàng ngụy; hai là bằng vỏ bọc công khai hợp pháp, tổ chức lại đường dây tài chính của Ban Tài chính đặc biệt đã bị đứt trước đó ba là sẵn sàng cho một kế hoạch lâu dài hơn, là khi cần có thể tham gia vào Chính phủ Liên hiệp, để tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc”...
Nhưng giờ đã là lúc ta chuẩn bị cho tiếp quản Sài Gòn rồi…
Trụ sở NHNN chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
Và chiều 30/4/1975, tại ngã tư Bảy Hiền, bác Ba Châu đã đón được đoàn quân vào tiếp quản. Do đã chủ động chuẩn bị trước, nên mọi việc được hoàn thành rất tốt. Ban Quân quản Ngân hàng Sài Gòn – Gia Định, mà bác Ba Châu được giao trọng trách Trưởng Ban, đã tổ chức hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt là việc nắm giữ bộ máy phát hành tiền, kho tiền và kim khí quý, sổ sách chứng từ… tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng hoạt động lại ngay sau đó.
Linh hoạt nên vận hành hiệu quả
Bác Ba Châu cho biết, nguyên tắc của Chính phủ Cách mạng Lâm thời (CPCMLT) Cộng hòa miền Nam lúc đó là quốc hữu hóa tài sản của chính quyền ngụy, nhưng bảo đảm quyền sở hữu chính đáng của nhân dân. Vì thế ngân hàng phải nhanh chóng hoạt động trở lại để ổn định đời sống và các hoạt động kinh tế - xã hội khác, đặc biệt thiết thực là việc thanh toán tiền gửi của khách hàng, nhất là tiền gửi của các tổ chức ngoại giao.
Người dân hân hoan chào đón đoàn quân giải phóng
Vì thế, ngay sáng 1/5/1975, Ban Quân quản ngân hàng đã triệu tập cán bộ nhân viên ngân hàng cũ họp hội nghị quán triệt “Chính sách 10 điểm” của CPCMLT. Mục đích là sử dụng lại lực lượng này, để vận hành hệ thống ngân hàng cũ hoạt động theo chủ trương nhiệm vụ mới. Vì ngân hàng là một chuyên ngành hoạt động mang tính đặc thù, nhưng lúc đó ta chưa đủ lực lượng chuyên nghiệp.
Hội nghị thành công, cán bộ nhân viên ngân hàng cũ hăng hái đến công sở của mình làm việc dưới sự giám sát của cán bộ Ban Quân quản ngân hàng. Nhờ đó mà chỉ đến ngày 9/5/1975, ngân hàng đã hoạt động trở lại. Vì trong thời gian chuẩn bị đổi tiền mới, tiền cũ vẫn tạm thời được sử dụng. Và các hoạt động tiền gửi của nhân dân và tổ chức vẫn được diễn ra bình thường.
Đến đây, việc quan trọng nhất là phải thành lập một ngân hàng mới của CPCMLT, để thực hiện quyền phát hành, quản lý chính sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng miền Nam vừa giải phóng, tiến tới ngân hàng thống nhất đất nước.
Và ngày 6/6/1975 Hội đồng CPCMLT CHMN đã ra Nghị định số 04/PCT-75 thành lập NHQG Việt Nam. Nghị định cho thấy NHQG Việt Nam, tuy có tên giống như NHQG cũ, nhưng đó là công cụ của Đảng và Nhà nước, lập ra để thực hiện nhiệm vụ cải tạo và xây dựng kinh tế miền Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lịch sử đã chứng minh tính linh hoạt và đúng đắn của việc thành lập NHQG này.
Cũng nhờ tên gọi đó, mà chẳng những ta đã sử dụng hiệu quả lực lượng cũ, vận hành tốt hệ thống ngân hàng mới, mà còn giành được vị thế mới trên trường quốc tế. Đó là chỉ đến tháng 9/1976 chúng ta đã trở thành thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)…
Ông Lê Công Thượng - nguyên giám đốc Agribank TP. Hồ Chí Minh
45 năm huyền thoại đoàn cán bộ ngân hàng B68
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân ta, cùng với cả nước đã có trên 450 cán bộ ngành Ngân hàng lên đường vào Nam tham gia chiến đấu.
Đầu tháng 5/1968 tất cả hơn 450 cán bộ ngành Ngân hàng đã có mặt tại địa điểm Trường 105, Đoàn cán bộ ngân hàng với trái tim và lòng nhiệt huyết đã lên đường vượt Trường Sơn vào Nam. Đường hành quân phải vượt qua những trận mưa bom lửa đạn, chinh phục bao suối sâu đèo cao, mưa dầm vắt cắn, sốt rét, thiếu rau xanh, muỗi rừng, rắn độc rình rập ngày đêm. Sau nhiều tháng hành quân, Đoàn cán bộ ngân hàng B68 đã về đến địa điểm tập kết an toàn.
Nếu đường mòn Hồ Chí Minh được biết đến như một huyền thoại của lòng quả cảm, của sự hy sinh của dân tộc, thì trên mặt trận kinh tế cũng có một đường mòn như thế. Đoàn cán bộ Ngân hàng B68 lĩnh sứ mạng tiên phong trên mặt trận này.
Từ chiến khu, căn cứ cách mạng cho đến trong lòng địch, ấp chiến lược… các cán bộ Ngân hàng được chi viện cho miền Nam đều có mặt và đã tham gia sản xuất, công tác huy động tài chính phục vụ kháng chiến, kể cả tham gia chiến đấu, chống địch lấn chiếm vùng giải phóng sau Tết Mậu Thân năm 1968. Một số cán bộ ngân hàng đã hy sinh, bị giặc bắt tù đày. Đã có 67 đồng chí hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.
Trong thời kỳ khó khăn và mất mát đó, nguồn tiền chi viện cho chiến trường có một phần từ miền Bắc, một phần từ nguồn viện trợ của các nước anh em, bè bạn quốc tế và có cả Việt kiều với lòng yêu nước yêu tự do đã chuyển tiền giúp Việt Nam. Tất cả đều được chuyển tới chiến trường.
Muốn chuyển nguồn tài chính đó vào miền Nam, trước hết phải đổi ra đồng ngoại tệ mạnh, chủ yếu là đôla Mỹ, từ đó mới đổi ra tiền ngụy (tiền Sài Gòn) hoặc tiền Ria (Campuchia) để chi tiêu. Bởi thế một hệ thống tổ chức bí mật được triển khai từ miền Bắc vào Trung ương cấp cao của Đảng lo việc này. Ở miền Nam do Trung ương Cục chỉ đạo và Ban Tài chính đặc biệt mang bí số N2683 đảm trách.
Một số cán bộ ngân hàng đi B68 được giao trọng trách (dưới sự chỉ đạo của đồng chí Lữ Minh Châu đang hoạt động trong nội thành) “chế biến” ngoại tệ mạnh này thành tiền Sài Gòn và tiền Ria để phân phát cho các ban ngành, quân giải phóng… mua lương thực, thuốc men phục vụ chiến đấu góp phần vào thắng lợi cuộc tấn công mùa xuân 1975.
Những công lao và hy sinh lớn lao của các cán bộ ngân hàng B68 cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là vậy. Chúng ta tự hào về một thế hệ cán bộ ngân hàng năm xưa đã sống, chiến đấu, cống hiến cho Ngành, Tổ quốc, cho dân. Không những thế, đây còn là niềm tự hào cho thế hệ cán bộ ngân hàng hôm nay vươn lên hoàn thành xuất sắc sự nghiệp xây dựng hệ thống ngân hàng Việt Nam lành mạnh, hiệu quả, vững vàng hội nhập thành công với khu vực và quốc tế.
Ông Văn Văn Sáu - nguyên Ủy viên HĐQT Agribank, Phó tổng Giám đốc Ngân hàng Liên doanh VinaSiam
Ở lại với ngân hàng cách mạng
Tôi tốt nghiệp Luật khoa, Đại học Sài Gòn năm 1961 và gia nhập ngành Ngân hàng chế độ Sài Gòn cũ. Trước 30/4/1975, tôi làm Giám đốc Nha Tín dụng. Những ngày tháng 4 ấy, chúng tôi đều thấy tình hình miền Nam biến động từng ngày.
Ai cũng biết Sài Gòn rồi sẽ được giải phóng, chế độ cũ rồi cũng sẽ được xóa bỏ. Vì thế, dạo ấy nhiều người có điều kiện đã đưa gia đình di tản ra nước ngoài. Tâm trạng tôi cũng ngổn ngang nghĩ suy ra đi hay ở lại. Vì tôi cũng có điều kiện di tản. Nhưng rốt cục tôi quyết định ở lại. Bởi cứ nghĩ chế độ thay đổi, nhưng chế độ nào cũng cần có ngân hàng. Với lại ở đâu chẳng sống, nhưng sống ở đâu hơn đất nước mình…
Ngày 1/5/1975, chúng tôi được triệu tập họp hội nghị quán triệt “Chính sách 10 điểm” của CPCMLT. Tôi ngạc nhiên thấy có đồng nghiệp cũ, nhưng giờ lại là cán bộ Ban Quân quản ngân hàng trong vị trí hướng dẫn chúng tôi học tập chính trị. Sau này mới biết đó là những cán bộ cách mạng hoạt động bí mật nội đô. Rồi theo chủ trương của CPCMLT, Ngân hàng Sài Gòn – Gia Định cũng hoạt động trở lại.
Dạo ấy, tôi không cắt nghĩa được vì sao lại thấy mình cứ ngày một vui hơn mỗi khi đến công sở làm việc. Mãi sau này tôi mới biết chính bởi mình bị cuốn hút vào cái hào khí đất nước được giải phóng, Tổ quốc thống nhất. Thì ra đó là tình cảm dân tộc vốn vẫn chảy trong máu người dân Việt như tôi.
Trong chuyên môn, cán bộ cũ và mới đều dễ tìm thấy sự đồng cảm, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau. Nhờ đó công việc của tôi ngày một tiến bộ lên. Khi đất nước bước vào đổi mới, tôi và nhiều chuyên gia ngân hàng cũ đã được mời tham gia soạn thảo đề án đổi mới ngân hàng. Riêng tôi được phân công vào Ban soạn thảo Đề án Thành lập Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
Năm 1991 tôi trở thành Ủy viên HĐQT Agribank, kiêm Giám đốc Sở II Agribank tại TP Hồ Chí Minh. Ít lâu sau đó, vẫn trong cương vị Ủy viên HĐQT Agribank, tôi được giao nhiệm vụ Phó giám đốc Ngân hàng Liên doanh VinaSiam, cho đến năm 2001 thì được nghỉ hưu.
…Giờ nhìn lại năm tháng đời mình, tôi thấy ở lại với ngân hàng cách mạng là một cuộc cách mạng sâu sắc của tôi, do tôi thực hiện và giành được nhiều thành công nhất…
Theo TBNH