Tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Hà Sơn Nhin - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai.
Câu hỏi:
1. Nguyên nhân và biện pháp để nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vốn thực sự được vay với mức lãi suất 15%/năm.
2. Nhà nước chỉ quy định mức trần lãi suất cho vay hoặc quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động phù hợp thì sẽ giải quyết cơ bản vấn đề bức xúc hiện nay và cùng với việc giám sát chặt chẽ, xử lý vi phạm kịp thời thì sẽ hạn chế được tiêu cực trong các ngân hàng thương mại.
3. Với tình hình lãi suất như hiện nay thì dân thiệt, Nhà nước thiệt, chỉ có Ngân hàng được lợi.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Hà Sơn Nhin như sau:
1. Về nguyên nhân và biện pháp để nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vốn thực sự được vay với mức lãi suất 15%/năm:
Ngày 8/5/2012, Ngân hàng Nhà nước đã quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND1 đối với 4 lĩnh vực sản xuất – kinh doanh. Theo đó, các tổ chức tín dụng đã và đang triển khai các chương trình cho vay đối với 4 lĩnh vực này với mức lãi suất cho vay ngắn hạn không quá 15%/năm kể từ ngày 8/5/2012 và không quá 14%/năm kể từ ngày 28/5/2012. Tuy nhiên, số tiền giải ngân từ các chương trình cho vay này còn hạn chế do các nguyên nhân chủ yếu sau: (1) Một bộ phận doanh nghiệp không đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật hiện hành; (2) Một bộ phận doanh nghiệp đủ điều kiện vay vốn nhưng đang gặp khó khăn về tiêu thụ hàng hóa, hàng tồn kho cao nên chưa có nhu cầu vay vốn hoặc tạm thời sử dụng các nguồn vốn khác để chờ lãi suất tiếp tục giảm; (3) Khả năng trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp và hộ dân suy giảm, nguy cơ rủi ro tín dụng tăng, nên các tổ chức tín dụng thận trọng hơn trong việc xem xét cho vay để hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn tín dụng...
Thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/20012 của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã và đang triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ vốn vay; điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt; điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành, nhất là đối với các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng nhiều lao động; xem xét miễn, giảm lãi phải trả đối với khách hàng bị tổn thất về tài sản dẫn đến khó khăn về tài chính theo quy định pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng đang tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn tháo gỡ khó khăn và triển khai các chương trình cho vay đối với khách hàng thuộc 4 lĩnh vực ưu tiên để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được ngồn vốn vay lãi suất thấp.
2. Quan điểm đối với vấn đề nhiều doanh nghiệp cho rằng trong chính sách tín dụng, Nhà nước chỉ quy định mức trần lãi suất cho vay hoặc quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động phù hợp thì sẽ giải quyết cơ bản vấn đề bức xúc hiện nay của nhiều doanh nghiệp và cùng với việc giám sát chặt chẽ, xử lý vi phạm kịp thời thì sẽ hạn chế được tiêu cực, nhũng nhiễu trong các ngân hàng thương mại.
Trong bối cảnh hiện nay, nếu chỉ quy định một mức trần lãi suất cho vay chung hoặc chỉ quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động là không phù hợp:
Việc quy định một mức trần lãi suất cho vay chung sẽ dẫn đến tình trạng cào bằng lãi suất cho vay đối với tất cả các đối tượng khách hàng, không phân biệt được các đối tượng cần khuyến khích và đối tượng không khuyến khích. Đối với các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, cần có một mức lãi suất thấp; trong khi đó, đối với các lĩnh vực không khuyến khích, là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, phải kiểm soát chặt chẽ theo chủ trương của Chính phủ, lãi suất cho vay cần cao hơn.
Nếu chỉ quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động (không quy định trần lãi suất huy động) thì chưa đủ để thực hiện mục tiêu giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ vì các tổ chức tín dụng yếu kém, đang gặp khó khăn về thanh khoản sẽ tăng lãi suất huy động để mở rộng huy động vốn, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn, từ đó kéo lãi suất cho vay tăng theo.
Trên cơ sở đã cân nhắc kỹ, Ngân hàng Nhà nước thấy rằng trong bối cảnh hiện nay cần tiếp tục duy trì quy định trần lãi suất tiền gửi. Đồng thời, để hỗ trợ doanh nghiệp thuộc 4 lĩnh vực ưu tiên tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với mức lãi suất hợp lý, Ngân hàng Nhà nước đã quy định mức chênh lệch tối đa giữa lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND so với lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 3%/năm.
3. Về vấn đề có nhiều ý kiến cho rằng, với tình hình lãi suất cho vay như hiện nay thì dân thiệt, Nhà nước thiệt, chỉ có Ngân hàng được lợi (vì thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó khăn, thua lỗ… nhưng các NHTM lãi rất lớn).
Mức trần lãi suất huy động được Ngân hàng Nhà nước xác định trên cơ sở lạm phát, đảm bảo vừa thu hút được tiền gửi của người dân, vừa làm cơ sở xác định lãi suất cho vay ở mức nền kinh tế có thể chấp nhận được để đạt được các mục tiêu vĩ mô. Trần lãi suất tiền gửi VND có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên đang là 11%/năm, trong khi kỳ vọng lạm phát hiện khoảng 7%, nên chênh lệch lãi suất dương khoảng 3% và người gửi tiền có lợi. Việc quy định biên độ 3% giữa trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với 4 lĩnh vực ưu tiên với trần lãi suất huy động bằng VND là để đảm bảo cho tổ chức tín dụng bù đắp chi phí kinh doanh (dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán, rủi ro hoạt động, chi phí quản lý). Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động chưa phải là lợi nhuận của ngân hàng.
Đồng thời, ý kiến cho rằng các ngân hàng lãi rất lớn là chưa chính xác. Một ngân hàng có quy mô trung bình thì tổng tài sản ở mức khoảng 50.000 - 60.000 tỷ đồng, vốn điều lệ ít nhất cũng từ 3.000 - 5.000 tỷ đồng. Với quy mô tài sản và vốn như vậy, mỗi năm ngân hàng có lãi khoảng 1.000 - 2.000 tỷ đồng thì hệ số ROA và ROE vẫn ở mức thấp so với nhiều ngành nghề kinh doanh khác. Chính vì vậy, trên thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu của các ngân hàng đang thấp hơn so với nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác.
Thời gian qua, vì mục đích quảng bá thương hiệu, một số ngân hàng thường công bố chênh lệch giữa thu nhập và chi phí hàng tháng hoặc hàng quý làm cho dư luận hiểu nhầm đó là lợi nhuận của ngân hàng. Thực tế, lợi nhuận của một ngân hàng chỉ xác định được chính xác khi kết thúc năm tài chính, sau khi các ngân hàng đã trích lập đầy đủ các khoản dự phòng rủi ro, trích lập các quỹ và nộp thuế đầy đủ. Qua đánh giá, theo dõi, phân tích nhiều năm cho thấy, lợi nhuận của hệ thống ngân hàng không lớn và nằm ở nhóm doanh nghiệp có thu nhập trung bình của Việt Nam.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Hà Sơn Nhin. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.
1 Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND bằng lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên do Ngân hàng Nhà nước quy định cộng (+) 3%/năm.