Ngày 02/7/2008, Chính phủ đã tiến hành họp báo thường kỳ nhằm đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng sáu và sáu tháng đầu năm 2008, đề ra những giải pháp cần thực hiện trong sáu tháng cuối năm 2008.
1. Tình hình kinh tế - xã hội tháng sáu và sáu tháng đầu năm 2008
Trong bối cảnh giá nguyên vật liệu tăng cao, lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới, Chính phủ, các bộ, ngành và các cấp đã thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt nhằm ổn định tình hình kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng. Đến nay, các giải pháp đưa ra đã bắt đầu phát huy hiệu quả, cụ thể là:
– Tốc độ lạm phát bắt đầu chậm lại với giá cả hàng tiêu dùng trong tháng sáu chỉ tăng 2,14% – mức tăng thấp nhất trong sáu tháng đầu năm 2008;
– Sản xuất nông nghiệp vượt qua nhiều khó khăn, đặc biệt là vụ lúa đông xuân được mùa lớn với sản lượng đạt trên 18 triệu tấn (tăng 1 triệu tấn so với vụ đông xuân 2007), có ý nghĩa cả về kinh tế, xã hội và ổn định giá lương thực – thực phẩm;
– Kim ngạch xuất khẩu tăng cao, tổng kim ngạch xuất khẩu sáu tháng đầu năm đạt 29,7 tỉ USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm trước. Tỉ trọng nhập siêu có xu hướng giảm dần, tổng giá trị nhập siêu hàng hóa là 14,77 tỉ USD, bằng 49,8% tổng kim ngạch xuất khẩu và bằng 77,0% mức dự kiến nhập siêu cả năm 2008;
– Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao, các nhà đầu tư vẫn tin tưởng vào triển vọng trung hạn và dài hạn của thị trường Việt Nam. Tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm đạt 31,6 tỉ USD, tăng gấp trên 3 lần so cùng kỳ năm 2007, tập trung vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng (55,4%) và dịch vụ (44,0%);
– Thu ngân sách Nhà nước tăng cao, góp phần đáp ứng nhu cầu chi tiêu, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh, xã hội. Thu ngân sách 6 tháng đầu năm đạt 60,6% dự toán, tăng 40,8% so với cùng kỳ năm 2007. Tổng chi ngân sách nhà nước đạt 51,8% dự toán, tăng 24,5% so cùng kỳ năm 2007, chính sách tiết kiệm chi tiêu được thực hiện triệt để hơn, tổng số tiền tiết kiệm chi tiêu dự kiến là 2.558 tỉ đồng, đạt 73,8% chỉ tiêu tiết kiệm đề ra, kế hoạch đầu tư phát triển năm 2008 được điều chỉnh và sắp xếp lại theo hướng đảm bảo hiệu quả và mục đích chi tiêu;
– Chính sách tiền tệ thắt chặt tiếp tục được điều hành thực hiện theo hướng tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu, tỉ giá liên ngân hàng đã được điều chỉnh lên mức 16.461VND/ USD và tăng biên độ dao động từ 1% lên mức ±2%. Dư nợ tín dụng chỉ tăng 20%, tiền mặt trong lưu thông giảm 7,13% so với tháng 12/2007 và giảm 17,46% so với cùng kỳ năm trước, tổng phương tiện thanh toán chỉ tăng 4,48%.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế trong nước đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, tăng trưởng kinh tế giảm dần, chi phí sản xuất kinh doanh tăng cao do giá nguyên vật liệu đầu vào và lãi suất ngân hàng tăng cao, tỉ lệ nhập siêu đứng ở mức cao, thị trường tiền tệ còn diễn biến phức tạp, thị trường chứng khoán chưa ổn định.
2. Những giải pháp chủ yếu trong sáu tháng cuối năm 2008
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững và ổn định đời sống nhân dân, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện một cách nghiêm túc các nghị quyết của Quốc hội và ý kiến chỉ đạo của Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2008, về các biện pháp kiềm chế lạm phát và hạn chế nhập siêu nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
– Theo dõi chặt chẽ diễn biến cung cầu các mặt hàng trọng yếu, đảm bảo đủ nguồn cung cho sản xuất và tiêu dùng, thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu đi đôi với kiểm soát và thực hiện tái cơ cấu hàng nhập khẩu, áp dụng đồng bộ các biện pháp giảm nhập siêu;
– Tăng cường kiểm tra, kiểm soát giá vật tư đầu vào sản xuất, thực hiện kiểm soát việc kê khai và đăng ký giá cả, tăng cường quản lý thị trường và thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định giá cả, chống đầu cơ và gian lận thương mại;
– Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ theo hướng tiết kiệm chi tiêu, nhất là chi thường xuyên và chi tiêu công, kiểm soát chặt chẽ hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là đầu tư vào các dự án không thuộc lĩnh vực sản xuất và kinh doanh chính của doanh nghiệp. Đồng thời, khuyến khích tiết kiệm chi tiêu, xăng dầu, điện, nước, v.v;
– Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng linh hoạt trong điều hành, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, điều chỉnh tỉ giá và thị trường ngoại hối một cách linh hoạt theo diễn biến thị trường và yêu cầu của nền kinh tế;
– Rà soát bãi bỏ những qui định không phù hợp gây cản trở cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cần thiết phát triển đa dạng và khai thác thế mạnh của các ngành công nghiệp, dịch vụ nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, thực hiện các giải pháp đẩy mạnh sản xuất nông, lâm nghiệp và phòng chống thiên tai, dịch bệnh;
– Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và có hiệu quả các chính sách đã ban hành về ổn định an sinh xã hội cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, các gia đình chính sách và người lao động có thu nhập thấp, thực hiện các chương trình tín dụng cho các hộ nghèo và các đối tượng chính sách để phát triển sản xuất kinh doanh, v.v;
– Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước. Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung các qui định, thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp và người dân.
XT-VPNHNN