Trả lời phỏng vấn phóng viên Thời báo Ngân hàng, bên lề buổi công bố Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011, hôm 17/5, TS. Nguyễn Đức Thành - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng: Nếu không kiên định với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện quyết liệt, nhất quán chính sách tiền tệ (CSTT), chính sách tài khóa thắt chặt, chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất kiểm soát lạm phát. (Linh Ly thực hiện).
PV: Thưa TS, nhìn vào diễn biến chỉ số giá tiêu dùng và những chỉ số kinh tế vĩ mô, dường như nền kinh tế đang diễn biến tương tự năm 2008?
TS. Nguyễn Đức Thành: Xét về không gian chính sách cho các chính sách vĩ mô, chúng ta ở vào thế bất lợi hơn so với năm 2008 đặc biệt là về chính sách tiền tệ. Lạm phát năm 2008 bùng lên cao, nhưng lãi suất lúc đó chưa cao; và khả năng tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát là chấp nhận được. Thời điểm đó, dự trữ ngoại hối cũng cao hơn hiện nay nên NHNN có thể can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối... Song quan trọng nhất là lúc đó nhiều người có tâm lý khá lạc quan.
Trong khi đó, cuối năm 2010, chúng ta lại sử dụng CSTT để can thiệp vào thị trường: nâng lãi suất, thắt chặt hơn cung tiền và tín dụng, dự trữ ngoại hối giảm mạnh do phải bình ổn tỷ giá. Do đó, năm 2011, các công cụ chính sách không còn nhiều cơ hội vận dụng với quy mô lớn như trước. Điều này thể hiện ở việc, trong những tháng đầu năm nay chúng ta đã phải sử dụng nhiều công cụ hành chính để can thiệp vào các thị trường.
Dù thế nào, xét trong ngắn hạn, vấn đề lớn của năm 2011 vẫn là tình hình lạm phát và bất ổn vĩ mô. Do đó, mục tiêu quan trọng hàng đầu của năm vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô, như tinh thần của Nghị quyết 11 của Chính phủ.
PV: Chính việc thực hiện Nghị quyết 11, với các biện pháp thắt chặt tiền tệ khiến các DN gặp rất nhiều khó khăn... Vậy nên ứng xử ra sao trong bối cảnh này thưa ông?
TS. Nguyễn Đức Thành: Sau khi nghiên cứu và phân tích, chúng tôi đã xây dựng 2 kịch bản giả định cho nền kinh tế Việt Nam năm 2011.
Kịch bản thứ nhất: CSTT được thắt chặt một cách kiên nhẫn (có thể kéo dài đến hết năm) đi liền với cắt giảm chi đầu tư công một cách nghiêm khắc (như tinh thần của Nghị quyết 11). Với kịch bản này, lạm phát vẫn có thể cao tới 15,5%, tăng trưởng đạt khoảng 6,2%. Trong đó, lạm phát hay mức giá chung có thể tăng cao hơn dự kiến là do có sự điều chỉnh giá các mặt hàng thiết yếu và nguyên liệu đầu vào lớn. Trong kịch bản này, chỉ khi giá nguyên liệu thô trên thế giới giảm mạnh, thì lạm phát có thể giảm nhiều hơn vào cuối năm, giúp kìm đà tăng giá của cả năm.
Kịch bản thứ hai, mức lạm phát có thể cao hơn, khoảng trên 18%, nếu Chính phủ không đủ quyết liệt trong việc chống lạm phát và bình ổn vĩ mô. Động thái này hoàn toàn có thể xảy ra như năm trước, khi thấy tình hình lạm phát có khả năng giảm, dưới sức ép của khu vực doanh nghiệp và sự thiếu kiên nhẫn trong chính sách chúng ta đã nới lỏng CSTT trong quý III năm 2010 và đã giúp tăng trưởng năm 2020 cao hơn một chút. Nhưng hiệu ứng hỗ trợ tăng trưởng không còn đáng kể và tạo ra sự bất ổn cho năm 2011. Cũng cần phải lưu ý rằng mức lạm phát cao như trong kịch bản này, hàm chứa những rủi ro vĩ mô lớn và nguy cơ lạm phát sẽ vượt khỏi khả năng kiểm soát là rất cao.
PV: Đâu là lựa chọn chính sách hợp lý, thưa ông?
TS. Nguyễn Đức Thành: Chính phủ đã đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô là ưu tiên hàng đầu. Vì thế, cần phải thực thi CSTT chặt chẽ một cách kiên quyết và kiên nhẫn. Cần tính toán lại các chỉ tiêu tiền tệ cho phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay; đồng thời điều hành một cách nhất quán, dứt khoát bằng các công cụ mang tính thị trường. Mức giới hạn tăng trưởng tín dụng dưới 20% như Nghị quyết 11 đã đề ra là hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh của nền kinh tế (đã quen với lượng cung tín dụng cao). Nếu đặt chỉ tiêu thấp hơn, vừa khó khả thi, vừa có thể là một cú sốc mạnh. Tuy nhiên, cần duy trì mức cung tín dụng hạn chế tương tự trong những năm tiếp theo.
Đồng thời, chính sách tài khóa phải thắt chặt thực sự, trên cơ sở tính toán đến khả năng tăng trưởng trong dài hạn. Việc cắt giảm chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước cần phải được thực hiện đồng thời với việc đa dạng hóa hay xã hội hóa các khoản đầu tư xây dựng cơ bản như các hình thức đầu tư theo dạng BOT, hay đầu tư hợp tác công tư (PPP) để đảm bảo nguồn lực xã hội cho đầu tư cơ sở hạ tầng.
PV: Xin cảm ơn ông!