a) Tên Đề tài: Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại Việt Nam và một số khuyến nghị - mã số DTNH.12/2015
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: TS. Phạm Thanh Thủy - Phó Trưởng Bộ môn Kiểm toán, khoa Kế toán – Kiểm toán, Học viện Ngân hàng.
- Thư ký: TS. CPA. Lê Thị Thu Hà - Phó Chủ nhiệm khoa Kế toán - Kiểm toán, Học viện Ngân hàng.
- Các thành viên tham gia:
d) Mục tiêu của nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại Việt Nam, đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại Việt Nam.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 02/2015.
- Thời gian kết thúc: Tháng 07/2016.
e) Kinh phí thực hiện: 165 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm mục tiêu nghiên cứu các cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB), thực trạng về hệ thống KSNB của NHTM ở Việt Nam hiện nay để đưa ra giải pháp hoàn thiện về hệ thống KSNB của NHTM Việt Nam, đề tài DTNH.12/2015 được cấu trúc thành 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, bao gồm lý luận chung về hệ thống KSNB của các NHTM, đặc điểm của NHTM ảnh hưởng đến việc thiết kế và vận hành của hệ thống KSNB của các NHTM, đánh giá hệ thống KSNB, và nội dung đánh giá hệ thống KSNB. Nhóm tác giả cũng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC các NHTM làm cơ sở cho việc nghiên cứu đánh giá hệ thống KSNB của các NHTM Việt Nam.
Chương 2 của đề tài tập trung đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại Việt Nam, bao gồm: Cơ sở pháp lý của kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại Việt Nam; Thực trạng về môi trường kiểm soát, quy trình đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin và trao đổi thông tin; Thực trạng về các hoạt động kiểm soát, giám sát các kiểm soát và một số sai phạm trong lĩnh vực ngân hàng. Tại đây, nhóm tác giả đưa ra kết luận nhìn chung hệ thống KSNB của các NHTM Việt Nam đã được xây dựng phù hợp với yêu cầu về mặt pháp luật. Tuy nhiên, hệ thống KSNB của các NHTM Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Những điểm yếu của hệ thống KSNB của NHTM chỉ bộc lộ khi các vụ vi phạm trong lĩnh vực hoạt động của một số NHTM bị phanh phui. Những điểm yếu này được nhìn nhận là do tính hiệu lực của hệ thống KSNB trong các NHTM, cụ thể:
- Một số cán bộ ngân hàng, trong đó có cả lãnh đạo cấp cao của ngân hàng, chưa thực sự coi trọng tính chính trực và các giá trị đạo đức, dẫn tới việc nhiều hành vi sai phạm đã được thực hiện bởi cả các lãnh đạo và nhân viên ngân hàng trong thời gian qua.
- Chức năng quản trị rủi ro, nhận diện, đánh giá và ứng phó với rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng của hệ thống KSNB còn hạn chế.
- Các nguyên tắc thiết kế hoạt động kiểm soát chưa được tuân thủ một cách đầy đủ. Trong một số trường hợp, các bộ phận trong các ngân hàng chưa có sự liên kết kiểm tra và đánh giá lẫn nhau dẫn tới NHTM chưa phát hiện kịp thời những hạn chế của các hoạt động kiểm soát. Bên cạnh đó, các cách thức kiểm soát khác nhau tại Ngân hàng chưa được áp dụng một cách đầy đủ và thường xuyên.
- Vai trò giám sát của KTNB đối với hệ thống KSNB còn hạn chế, chưa phát hiện kịp thời những khiếm khuyết của hệ thống KSNB để khắc phục. Bộ phận KTNB chưa nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và của các đơn vị trong ngân hàng (đối tượng được kiểm toán).
- Việc đánh giá hệ thống KSNB chưa đi sâu đánh giá các nguyên tắc căn bản của hệ thống KSNB, mà chủ yếu mô tả cơ cấu tổ chức của ngân hàng, tóm tắt tình hình thực hiện kế hoạch kiểm toán trong năm vá các phát hiện kiểm toán (phần lớn là kiểm toán tuân thủ), xác định nguyên nhân sai sót/vi phạm; ra soát hệ thống các văn bản, quy định nội bộ, đánh giá việc thiết kế và thực thi các chốt kiểm soát trong một số quy trình cụ thể.
Những tồn tại trong kiểm soát nội bộ tại các NHTM Việt Nam phần lớn là do những nguyên nhân sau:
- Chưa có những hướng dẫn về mô hình, phương pháp đánh giá hệ thống KSNB trong các NHTM Việt Nam.
- Do ảnh hưởng bởi các yếu tố từ bên ngoài như tình hình kinh tế vĩ mô không thuận lợi hay từ bên trong như sự phát triển quá nhanh của các ngân hàng trong những năm qua, trong khi hệ thống KSNB còn hạn chế, chưa theo kịp sự phát triển của hoạt động ngân hàng.
- Sự thiếu hụt về nhân sự có kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán: Hiện nay có rất nhiều NHTM số lượng kiểm toán viên rất ít, không phù hợp với quy mô.
- Đối với việc đánh giá hệ thống KSNB từ phía công ty kiểm toán độc lập.
- Kỹ năng xét đoán các vấn đề trong quá trình kiểm toán của kiểm toán viên nội bộ còn nhiều hạn chế.
- Bất cập trong hệ thống chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp lý liên quan.
- Việc phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước (Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước, Bộ tài chính…), các NHTM, các công ty kiểm toán chưa chặt chẽ.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tại chương 1 và chương 2, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại Việt Nam, bao gồm:
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý: Hoàn thiện các quy định an toàn, các biện pháp thận trọng trong hoạt động ngân hàng; các quy định, chính sách quản lý các loại hình tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng đồng thời đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình thanh tra, giám sát phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ Ngân hàng và trên cơ sở áp dụng các nguyên tắc cơ bản về giám sát Ngân hàng có hiệu quả của Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel và các Chuẩn mực quốc tế về Giám sát Ngân hàng (Hiệp ước vốn Basel năm 1988 – Basel I), từng bước tiến tới thực hiện các nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản theo Hiệp ước Basel vốn mới (Basel II) sau năm 2010. NHNN nên có hướng dẫn về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của bộ phận kiểm tra giám sát tuân thủ, nêu rõ sự khác biệt cơ bản giữa kiểm tra giám sát tuân thủ và kiểm toán nội bộ (đặc biệt là bộ phận kiểm toán tuân thủ) để các NHTM hiểu và tránh được tình trạng chồng chéo công việc giữa hai bộ phận.
- Hoàn thiện hoàn thiện môi trường kiểm soát: Các NHTM cần nhận thức được rõ các thành phần của kiểm soát nội bộ cũng như tầm quan trọng của việc duy trì và thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hiệu quả hoạt động của mình, bao gồm hoàn thiện môi trường kiểm soát và xây dựng hệ thống KSNB đầy đủ, hiệu quả.
- Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro: Các NHTM cần xây dựng bộ phận quản lý rủi ro và duy trì hoạt động của bộ phận này với kênh thông tin đầy đủ nhằm phân tích, đánh giá, nhận diện rủi ro kịp thời để tránh, không chỉ là ngăn ngừa và phát hiện như hiện tại.
- Hoàn thiện hoạt động kiểm soát: Cần phải quy định rõ ràng công việc của các vị trí trong tổ chức; Kiểm soát quá trình xử lý thông tin như kiểm soát hoạt động của trung tâm dữ liệu, kiểm soát phần mềm hệ thống, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, kiểm soát việc truy cập hệ thống.
- Hoàn thiện hệ thống thông tin và truyền thông: Các NHTM cần hiện đại hóa hệ thống CNTT, phát triển hệ thống quản lý nội bộ, nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi phù hợp với quy mô, mức độ phức tạp hoạt động và yêu cầu quản trị, điều hành ngân hàng. Thiết lập các hệ thống báo cáo trong đó chứa đựng những thông tin về tài chính, hoạt động hoặc tuân thủ có thể giúp cho các thành viên có thể thu thập và nhận biết kịp thời các thông tin liên quan đến trách nhiệm và hoạt động đạt được mục tiêu của mình; đầu tư các hệ thống phần mềm trong các nghiệp vụ ngăn chặn các rủi ro trong quá trình tác nghiệp nghiệp vụ cũng chính là các chốt kiểm soát quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng…
- Hoàn thiện giám sát các kiểm soát: Để đảm bảo tính minh bạch và tăng cường sự giám sát của HĐQT, Ngân hàng cần phải tách bạch giữa chức năng giám sát của HĐQT với chức năng điều hành kinh doanh của Ban điều hành, thành viên HĐQT không nên trực tiếp phê duyệt các giao dịch kinh tế cụ thể. Đối với các khoản tín dụng/đầu tư lớn cần phê duyệt của HĐQT thì toàn bộ HĐQT biểu quyết với vai trò giám sát của HĐQT đối với Ban điều hành. Tăng cường giám sát trên cơ sở định hướng rủi ro; kiểm toán các doanh nghiệp có dư nợ lớn; các nghiệp vụ có tính rủi ro cao. Tăng cường vai trò kiểm soát sau trong từng bộ phận nghiệp vụ đảm bảo có sự kiểm tra, kiểm soát chéo trong quy trình; tăng cường công tác kiểm soát gắn liền với quản trị của các đơn vị nghiệp vụ trụ sở chính đối với các chi nhánh. Xây dựng các chỉ tiêu giám sát đối với hoạt động nghiệp vụ, phối với IT xây dựng hệ thống giám sát và hệ thống báo cáo giám sát áp dụng các báo cáo phân tích đánh giá theo định kỳ để tổ chức kiểm tra trực tiếp.Các thông tin hoạt động trong quản lý cần được ghi nhận lại trong hệ thống; Quy định trách nhiệm giám sát hàng ngày của các bộ phận đối với các cá nhân phụ trách bộ phận đó; Thường xuyên trao đổi về kiểm soát nội bộ đối với các bên như kiểm toán độc lập, thanh tra và các nhà điều tra gian lận; Tăng cường vai trò giám sát của KTNB thông qua việc tăng cường trao quyền kiểm tra, xử phạt các chi nhánh (khi phát hiện sai phạm trọng yếu và khi không điều chỉnh, sửa chữa theo đề nghị của kiểm toán nội bộ).
- Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO 2013: Từ khi ban hành vào năm 1992, nội dung của COSO không chỉ phục vụ công tác tài chính, kế toán mà còn mở rộng phạm vi toàn doanh nghiệp. Để có thể tăng cường tính giám sát quá trình thực thi kinh doanh theo những mục đích đề ra, vào năm 2013, COSO đã chính thức ban hành thêm các nguyên tắc để phụ vụ cho công tác quản trị toàn diện của một doanh nghiệp nhằm giảm rủi ro kinh doanh và hướng đến quản trị chiến lược theo hướng đa mục tiêu. Dựa vào những điểm chính đã điều chỉnh, COSO 2013 đã đưa ra 17 nguyên tắc mở rộng theo mô hình kết cấu bởi 5 thành phần cấu thành một hệ thống kiểm soát nội bộ dựa vào bản gốc năm 1992.
- Hoàn thiện việc đánh giá hệ thống KSNB.
- Hoàn thiện nguồn nhân lực: Thường xuyên đào tạo các kiểm toán viên đối với việc đánh giá kiểm soát nội bộ; Thường xuyên tích lũy thêm các kiến thức chuyên sâu và kỹ năng nghề nghiệp.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Khá.