DNNN vẫn loay hoay “bình mới, rượu cũ”
Hiện đại hoá quản trị cần đặt ra cấp bách như thoái vốn, cổ phần hoá
Ngọc Khanh
Rất nhiều mô hình quản trị DN hiện đại đã vào Việt Nam, nhưng vẫn chưa được áp dụng với khối DNNN, khiến hiệu quả hoạt động của khu vực này rất hạn chế dù nắm trong tay khối tài sản lớn. Thảo luận tại diễn đàn “Quản trị sự thay đổi và tái cấu trúc DNNN trong bối cảnh toàn cầu hoá” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 30/11, các chuyên gia khuyến nghị cần sớm thiết lập khuôn khổ quản trị hiện đại cho khối DNNN, nếu không quá trình cổ phần hoá, thoái vốn Nhà nước sẽ tiếp tục tình trạng “bình mới, rượu cũ”.
Cấp bách hiện đại hoá quản trị
Theo các chuyên gia kinh tế, thời gian vừa qua công tác tái cơ cấu khu vực DNNN mới tập trung vào việc cổ phần hoá và thoái vốn Nhà nước. Trong khi đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong khu vực này, còn rất nhiều vấn đề khác cần được quan tâm như buộc các DNNN phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, nâng cao hiệu lực quản trị DNNN thông qua áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế tốt. Những yêu cầu này cũng cần được đặt ra cấp bách như câu chuyện thoái vốn, cổ phần hoá.
Ông Phan Đức Hiếu - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết, trước nay chúng ta quản lý DNNN theo kiểu tăng cường thanh tra, kiểm tra. Điều này vô tình đã khoác lên cho DN cái áo chật chội, trong khi lại không đề cập tới cái gốc của tái cơ cấu, đổi mới DNNN là quản trị tốt. Ông Hiếu nhấn mạnh, sự chồng chéo, trùng lặp trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước tại DN dẫn tới đòi hỏi phải cải cách.Đây mới là mấu chốt để góp phần cải thiện vấn đề tái cơ cấu, đổi mới DNNN.
Chính vì vậy, sự ra đời của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại DN chính là bước tiến cụ thể thực hiện chủ trương, nỗ lực của Chính phủ trong tách bạch quyền chủ sở hữu và quản lý nhà nước. Đồng thời, đây cũng là bước để thiết lập khuôn khổ quản trị hiện đại, minh bạch, mang tính chất của một nhà đầu tư trên thị trường.
Tuy nhiên, ông Hiếu cũng lưu ý có 2 thách thức lớn mà siêu uỷ ban sẽ phải đối diện. Đó là dù khoác áo cơ quan Nhà nước nhưng tinh thần lại phải hoạt động như một nhà đầu tư có tính chuyên môn cao và chuyên nghiệp cao. Thứ hai, là cơ quan nhà nước nhưng với những đòi hỏi cao như vậy, cần có cơ chế để khuyến khích Ủy ban có nhân sự tốt, chuyên gia giỏi. Công việc của Ủy ban sẽ rất nhiều, rất nặng nề, để vượt qua thách thức này trước mắt rất cần sự nỗ lực.
Tìm mô hình phù hợp
Liên quan tới vấn đề này, TS. Vũ Đình Ánh - chuyên gia kinh tế cho rằng, chúng ta có nhiều thông lệ tốt của quốc tế, song để áp dụng vào Việt Nam là không hề đơn giản. Bởi lẽ hiện nay câu chuyện nâng cao hiệu quả quản trị đang bị vướng mắc ở các DNNN sau cổ phần hoá nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ vốn, thậm chí tỷ trọng giữ vốn rất lớn, ở mức 50%,70%, thậm chí lên tới 90% vốn Nhà nước.
Trong khi tới đây Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại DN sẽ phải trực tiếp thực hiện tái cấu trúc 2 nhóm là DN 100% vốn Nhà nước, cùng với các DN thuộc SCIC quản lý một phần vốn Nhà nước. Vì vậy cần phải tách bạch 2 nhóm DN này ra để có phương án tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả quản trị cho phù hợp chứ không thể áp dụng chung một phương thức.
Cùng với đó, hiện nay chúng ta cũng chưa quan tâm, thậm chí chưa có thông tin về quản trị DN sở hữu hỗn hợp, trong đó vừa có sở hữu Nhà nước, vừa có sở hữu tư nhân. “Chúng ta phải đào sâu mô hình quản trị trong trường hợp này, không thể sao chép y nguyên các nguyên tắc quản trị của OECD tuy rất hiện đại nhưng không thể áp cho loại sở hữu nhà nước hỗn hợp như kiểu của Việt Nam”, ông Ánh khuyến nghị.
Cùng chung quan điểm, ông Hoàng Trường Giang - Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương đã gợi ý một số vấn đề chính sách về quản trị DN và cơ cấu lại DNNN ở Việt Nam. Theo đó, cần phân chia DNNN thành 2 loại chính là DNNN thương mại và DNNN công ích để áp dụng các biện pháp cải cách, quản lý phù hợp. Đồng thời cần hoàn thiện cơ chế quản lý hiện đại thông qua tăng cường quản lý lãnh đạo các DNNN, xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn, đánh giá và giám sát khách quan; thực hiện chế độ tiền lương, thưởng theo cơ chế thị trường, gắn với hiệu quả hoạt động của DN và năng suất lao động cá nhân; xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả lao động một cách khoa học, khách quan để làm cơ sở xác định thu nhập cho người lao động; thực hiện cơ chế tuyển dụng lao động công khai, có tính cạnh tranh cao để thu hút người tài.
Liên quan đến mối quan hệ giữa DNNN với ngân hàng quốc doanh, tổ chức tài chính Nhà nước và các DNNN khác, ông Giang lưu ý phải dựa trên cơ sở thương mại thuần túy. Chính phủ không bảo lãnh cho các DNNN trong các khoản vay trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đơn giản hóa và hợp lý hóa thông lệ hoạt động và khuôn khổ pháp lý cho DNNN.