TS Lê Đăng Doanh
Những thành tựu và tiến bộ
Trong những năm qua, hệ thống tài chính-tiền tệ của nước ta đã phát triển và đổi mới liên tục, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng, phát triển, xoá đói giảm nghèo. Một hệ thống tài chính-tiền tệ bao gồm ngân hàng thương mại, bảo hiểm và thị trường chứng khoán đã hình thành, đáp ứng ngày càng có hiệu quả hơn nhu cầu phát triển của nền kinh tế, nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, nông dân cũng như nhu cầu thanh toán và tiêu dùng của dân cư.
Nếu như trong những năm 1990, độ sâu tài chính (financial deepening) mức độ tiền tệ hoá của nền kinh tế còn thấp thì trong những năm gần đây đã nhanh chóng tăng lên và đạt mức trung bình của các nền kinh tế có mức thu nhập tương đương.
Nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp dân doanh nhỏ và vừa, được đáp ứng ngày càng tốt hơn. Tỷ lệ tín dụng trên GDP tăng khoảng 37% năm 1998 lên 55% năm 2004. Tỷ lệ nợ xấu theo tiêu chuẩn Việt Nam của các ngân hàng thương mại đã được giảm bớt đáng kể. Công nghệ ngân hàng từng bước được cải thiện và hiện đại hoá. Ngân hàng điện tử và chữ ký điện tử đang được thử nghiệm để vận hành. Đặc biệt, với khoảng 6,8 triệu hộ được nhận tín dụng từ ngân hàng chính sách và mật độ các chi nhánh ngân hàng chính sách và tỷ lệ tín dụng cấp cho người nghèo đã đạt mức khá cao của các nước có trình độ phát triển tương đương.
Hệ thống bảo hiểm đã tăng trưởng và phát triển nhanh chóng, doanh số đã vượt ngưỡng 1% GDP. Vị trí độc quyền của Bảo Việt đã được thay thế bằng cạnh tranh gay gắt của khoảng 20 công ty bảo hiểm nhân thọ và các dịch vụ bảo hiểm khác, trong đó có 5 công ty bảo hiểm nước ngoài.
Thị trường chứng khoán của Việt Nam đi vào hoạt động từ năm 2000 đã chậm phát triển, số doanh nghiệp ghi danh rất hạn chế và có quy mô nhỏ, doanh số chỉ đạt mức không đáng kể 0,26% GDP.
Những tồn tại và thách thức
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, đến năm 2010, vượt qua ngưỡng nước có thu nhập thấp (mức hiện nay là GDP/người dưới 735 USD), hệ thống tài chính-tiền tệ phải có sự phát triển vượt bậc cả về lượng lẫn về chất. Với hệ số ICOR hiện nay khoảng 4,7, để đạt được tốc độ tăng trưởng GDP 8-9%/năm, hàng năm phải đầu tư 37-42% GDP, trong đó phần vốn trong nước phải có vai trò quyết định.
Kinh tế Việt Nam rất cần vốn để đầu tư phát triển, song số vốn ít ỏi trong nền kinh tế cũng chưa được huy động đầy đủ và phân bố sử dụng có hiệu quả. Những thiếu sót này liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng và quy mô của hệ thống tài chính- tiền tệ.
Chừng nào các Tổng Công ty lớn nhất chưa được cổ phần hoá và chưa được ghi danh trên thị trường chứng khoán trong nước và trên thế giới để thu hút vốn một cách nhanh nhạy và phân tán rủi ro, chừng đó hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn phải dựa vào kênh ngân hàng thương mại là chủ yếu để huy động vốn.
Trước hết, cần phát triển hài hoà thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng, vì hệ thống chứng khoán cho phép chia sẻ lợi nhuận và phân tán rủi ro với số lượng rất lớn người tham gia mua bán chứng khoán trong khi hệ thống ngân hàng phải một mình gánh chịu rủi ro khi cho vay. Phát triển thị trường chứng khoán đòi hỏi những nỗ lực rất cơ bản của hệ thống pháp luật về kế toán, kiểm toán, công khai, minh bạch; hệ thống giám sát và quản lý nhà nước có tính chuyên nghiệp cao, trình độ phát triển của quản trị kinh doanh và một hệ thống báo chí có trách nhiệm. Như vậy, việc phát triển hệ thống tài chính - tiền tệ là một nhiệm vụ liên ngành, phức hợp đòi hỏi một quá trình nỗ lực liên tục của nhà nước và doanh nghiệp.
Hệ thống ngân hàng thương mại tuy đã phát triển và được tăng vốn trong những năm gần đây, song so với các ngân hàng thương mại trong khu vực, vẫn còn quá nhỏ bé về quy mô và thiếu kinh nghiệm trong các dịch vụ tài chính quốc tế, phân tích thị trường và đánh giá dự án. Chất lượng tín dụng không cao, chịu sự can thiệp nhiều mặt của chính quyền các cấp, tỷ lệ nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc tế còn cao. Các ngân hàng thương mại nhà nước chưa thực sự tự chủ tài chính đầy đủ, các quyết định của ngân hàng chưa được thực hiện theo các tiêu chuẩn hiệu quả của ngân hàng mà còn phải tuân theo những áp lực ngoài ngân hàng. Trên thực tế, ngân hàng thương mại nhà nước phải gánh chịu hậu quả của hoạt động yếu kém của doanh nghiệp nhà nước vốn là khách hàng chủ chốt của các ngân hàng này. Do pháp luật về sở hữu chưa thật cụ thể và rõ ràng, thủ tục của ngân hàng cần quá nhiều chữ ký và con dấu chỉ để bảo đảm an toàn trước pháp luật chứ không tạo thuận lợi cho khách hàng. Chủ trương cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước được thực hiện quá chậm.
Hệ thống ngân hàng chưa tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn và thông lệ công khai, minh bạch các kết quả hoạt động, hệ thống số liệu ít được công bố thường xuyên và có hệ thống, như dự trữ ngoại tệ cũng được coi là bí mật quốc gia. Tỷ lệ sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế còn quá cao, hạn chế khả năng giám sát lưu thông tiền tệ.
Chức năng thống nhất quản lý nhà nước về chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước chưa được thực hiện tốt, một số hoạt động của các Quỹ tín dụng ưu đãi đầu tư trực thuộc Bộ Tài chính liên quan đến hoạt động tín dụng. Tín dụng ngoài hệ thống ngân hàng trong dân và các hoạt động tiền tệ phi chính thức còn chiếm tỷ lệ khá cao. Đồng tiền Việt Nam chưa có giá trị chuyển đổi đầy đủ.
Chiến lược, chiến thuật cải cách và phát triển hệ thống tài chính - tiền tệ
Do ý nghĩa và tầm quan trọng của hệ thống tài chính-tiền tệ, việc mở rộng, phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động và hiện đại hoá hệ thống tài chính- tiền tệ phải là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Nâng cao năng lực của hệ thống tài chính tiền tệ chính là chắp cánh cho nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững, cho xoá đói giảm nghèo và giúp đỡ các doanh nghiệp phát triển.
Hội nhập tài chính quốc tế là mức hội nhập cao nhất và đầy đủ nhất trong toàn bộ quá trình hội nhập. Tương lai sẽ có thị trường chứng khoán kết nối, đồng tiền chung, chính sách tiền tệ và tài khoá chung... Vì vậy, cải cách hệ thống pháp luật, thực hiện cạnh tranh, áp dụng các chuẩn mực quốc tế là những chuẩn bị cần thiết.
Mục tiêu là phải sớm xây dựng đồng bộ hệ thống tài chính-tiền tệ hiện đại, có trình độ chuyên môn cao, có trình độ tương đương với khu vực. Hệ thống tài chính tiền tệ phải bảo đảm hiệu quả, tăng trưởng lâu bền của nền kinh tế và nhất thiết tránh được khủng hoảng tài chính tiền tệ. Điều đó, đòi hỏi nỗ lực đồng bộ của Chính phủ, hệ thống tài chính tiền tệ và doanh nghiệp.
14:55, 21/04/2026
21:02, 10/04/2026
15:57, 04/03/2026
03:06, 10/02/2026
17:00, 02/02/2026
09:16, 29/01/2026
11:28, 19/01/2026