Để đạt tăng trưởng GDP 8,5% cho cả năm 2005 là một thách thức rất lớn. Chúng tôi xin trích đăng bài phân tích của Chuyên gia tài chính - ngân hàng Huỳnh Thế Du, chương trình Fulbright Việt Nam trên VietNamNet ngày 6/5 để tham khảo.
Sáng hôm qua (05/05/2005), Kỳ họp thứ 7, Quốc hội (QH) khoá XI đã được khai mạc. Theo Chủ tịch Nguyễn Văn An, trong kỳ họp lần này, QH sẽ dành phần lớn thời gian cho chương trình xây dựng pháp luật nhằm đáp ứng các yêu cầu của việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Đồng thời, trong báo cáo của Chính phủ do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày trước QH, nội dung chuẩn bị gia nhập WTO đã được nêu ra cụ thể và rõ ràng.
Tham gia vào WTO là điều kiện và nền tảng, đồng thời cũng tạo ra những áp lực để Việt Nam xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững dài hạn theo các chuẩn mực của thị trường. Nhìn về tương lai, ai cũng thấy điều này.
Nhưng giờ đây, chúng ta tạm gác sang một bên, để trở lại với những mục tiêu và nhiệm vụ nặng nề trong thời gian còn lại của năm 2005. Trong đó, đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 8,5% cho cả năm là một vấn đề rất lớn.
Nếu nhìn vào phương trình tính toán sản lượng quốc gia (GDP = Tiêu dùng của khu vực tư + Tiêu dùng của chính phủ + Đầu tư + Xuất khẩu - Nhập khẩu), ba yếu tố chính tạo ra GDP là nông nghiệp, dịch vụ và công nghiệp.
Thứ nhất, đối với khu vực nông nghiệp, trong tình hình thời tiết khắc nghiệt như năm nay, đạt được tốc độ tăng trưởng như mục tiêu đề ra không phải là việc làm dễ dàng. Đó là chưa kể đến những bất trắc, thiên tai lũ lụt có thể xảy ra trong thời gian cuối năm sẽ cuốn đi một phần không nhỏ của cải của chúng ta.
Thứ hai, đối với khu vực dịch vụ, theo báo cáo của Chính phủ, khu vực dịch vụ năm nay có tốc độ tăng trưởng khá cao, nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra là 8,2%. Việc thúc đẩy tăng trưởng ở khu vực này là một nhiệm vụ không hề đơn giản.
Như vậy, gánh nặng tăng trưởng hầu hết được đặt lên vai khu vực công nghiệp. Trong khu vực này, kể từ khi Luật DN ra đời, đã có một sự thần kỳ trong phát triển của khối các DN dân doanh. Khối này luôn đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất.
Nếu có những điều kiện tốt hơn nữa thì khả năng tăng trưởng của khối này có thể còn cao hơn nữa. Nhưng dù sao chính sách cũng có "độ trễ" ít nhất là 6 tháng đến 1 năm. Như vậy, nếu bây giờ có ngay chính sách thì khả năng vào năm 2006 mới có tác dụng. Chưa kể, điều mọi người trông đợi nhiều nhất là luật DN hợp nhất, hiện nay vẫn đang là bản thảo.
Khối thứ hai là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong 4 tháng đầu năm, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài của nước ta đã đạt được kết quả rất khả quan với gần 1,5 tỷ đô la. Nghĩa là, mục tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là có khả năng đạt được. Nhưng tỷ trọng đóng góp thêm của khu vực này vào tăng trưởng GDP và khả năng đẩy mạnh là rất khó, cần phải có thời gian, như đối với khu vực dân doanh.
Như vậy, để đảm bảo được mục tiêu tăng trưởng, gánh nặng cuối cùng được đặt lên đầu tư của nhà nước và các DN nhà nước (tổng vốn đầu tư của nhà nước và các DN nhà nước chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư của toàn nền kinh tế). Vấn đề có thể nảy sinh ở đây.
Trong thời hạn ngắn, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, một quốc gia có thể đẩy mạnh đầu tư. Cách tốt nhất là chính phủ tăng cường đầu tư vào khu vực công. Ở Việt Nam hay Trung Quốc, có thêm một ngoại lệ là chính phủ có thể cân đối nguồn vốn để các DN nhà nước đẩy mạnh đầu tư.
Để có nguồn vốn đầu tư, giải pháp ngắn hạn là Nhà nước có thể đi vay hoặc in thêm tiền (trong dài hạn, để phát triển bền vững, đầu tư tăng thêm phải do tiết kiệm của bản thân nền kinh tế, cụm từ mà ta hay dùng là phát huy nội lực).
Nếu in thêm tiền thì sao? Hậu quả nhãn tiền mà ai cũng có thể thấy được là lạm phát. Nếu áp dụng giải pháp này thì mục tiêu kiềm chế lạm phát ở con số 6,5% là một nhiệm vụ rất khó, trong khi mới 4 tháng đầu năm mức tăng giá đã là 4,3%.
Giải pháp còn lại là đi vay (vay nước ngoài hoặc vay trong dân bằng cách phát hành trái phiếu). Vay nước ngoài sẽ tăng thêm gánh nặng nợ cho quốc gia, vay trong dân chỉ là một sự chuyển dịch trong bản thân của nền kinh tế. Vấn đề đặt ra ở đây là khi đi vay vốn để đầu tư hoặc thực hiện một dự án đầu tư, cần phải xem xét yếu tố hiệu quả. Nếu đầu tư không hiệu quả sẽ là một sự lãng phí rất lớn.
Những vấn đề về lãng phí, thất thoát, hiệu quả thấp trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn nhà nước hiện đang là một đề tài rất nóng hổi. Nếu khối lượng đầu tư tăng lên đột ngột trong khi những hướng dẫn thực thi luật xây dựng, quy chế đấu thầu đang được xây dựng, thì việc đảm bảo hiệu quả đầu tư, chống thất thoát lãng phí là điều cần đặc biệt lưu ý. Nếu không, vốn đầu tư bỏ ra để đạt được mục tiêu tăng trưởng năm nay, nhưng để lại các dự án, công trình không phát huy hiệu quả là một sự lãng phí của cải và tài nguyên quốc gia rất lớn. Không những thế, những hậu quả liên quan (lòng tin…) có thể rất nặng nề.
Những mục tiêu đặt ra của nền kinh tế cần phải đạt được là điều hết sức quan trọng. Nhưng trong những điều kiện cụ thể, có thể có những điều chỉnh hợp lý nhằm đạt mục tiêu dài hạn mới là điều quan trọng nhất. Trong thực tế, việc dung hoà và giải quyết những xung đột của mục tiêu ngắn hạn và dài hạn là vấn đề không hề đơn giản.
Việt Nam có thể nhìn những kinh nghiệm của nước láng giềng Trung Quốc. Sau một thời gian đẩy nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao. gần đây Trung Quốc đã phải hạn chế tốc độ tăng trưởng để tránh những hậu quả do nền kinh tế phát triển quá nóng.
Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn ý của giáo sư Ari Kokko thuộc Trường Kinh tế Stockholm, Thuỵ Điển rằng: “Trong những năm 70 của thể kỷ 19, Thuỵ Điển gần như không có tên trên bản đồ kinh tế thế giới, nhưng sau 100 năm, chỉ với tốc độ tăng trưởng bình quân trên dưới 2% một năm, Thuỵ Điển đã trở thành nước có thu nhập bình quân đầu người trong tốp dẫn đầu thế giới”.
Thực tế cho thấy, có một nền kinh tế - xã hội như Thuỵ Điển hiện nay là điều mong mỏi của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Có lẽ, Việt Nam cũng đang hướng tới và xây dựng một xã hội như vậy.