Trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra, các biện pháp chính sách tiền tệ, tài khóa và lĩnh vực tài chính được triển khai một cách mạnh mẽ, nhanh chóng tại khắp các quốc gia đã cho thấy hiệu quả, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực, hỗ trợ quá trình phục hồi. Trên cơ sở các phân tích và dự báo về triển vọng kinh tế thế giới cập nhật tháng 01/2021, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đưa ra các khuyến nghị các hoạt động chính sách cần thiết để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng bền vững.
IMF đã có những đánh giá lạc quan hơn về triển vọng kinh tế toàn cầu khi nâng mức dự báo tăng trưởng lên 5,5% trong năm 2021 (cao hơn 0.3 điểm % so với dự báo đưa ra trong Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 10/2020). Với kết quả khả quan đã đạt được đó, IMF cho rằng các chính sách cần đảm bảo hỗ trợ hiệu quả cho đến khi quá trình bình thường hóa diễn ra cùng việc triển khai vắc xin rộng khắp và những hậu quả dai dẳng do suy thoái được hạn chế. Trong khi đó, các chính sách hỗ trợ nền kinh tế trước mắt cũng cần tiến tới các mục tiêu trung hạn là đưa các nền kinh tế vào lộ trình phục hồi và tăng trưởng hợp lý. Các sáng kiến thúc đẩy tiềm năng tăng trưởng, bảo vệ những đối tượng dễ bị tổn thương, đảm bảo tăng trưởng có sự tham gia và đem lại lợi ích cho mọi người cũng như đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cần thiết để giảm sự phụ thuộc vào carbon có thể sẽ giúp ích cho vấn đề này.
Theo IMF, ưu tiên chính vẫn là đảm bảo cho hệ thống y tế ở tất cả mọi nơi trên thế giới được cung cấp các nguồn lực cần thiết để đẩy lùi đại dịch trên toàn cầu. Điều này có nghĩa là đảm bảo nguồn vốn đầy đủ cho việc mua sắm và phân phối vắc xin, xét nghiệm, phương pháp điều trị, các thiết bị bảo hộ cá nhân và đầu tư vào các cơ sở chăm sóc sức khỏe. Hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế, bao gồm cả tài chính và hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc gia có hệ thống y tế kém phát triển có vai trò quan trọng. Cộng đồng quốc tế cũng cần hợp tác chặt chẽ để tăng cường khả năng tiếp cận vắc xin cho tất cả các nước, bao gồm cả việc tăng cường tài trợ cho Cơ chế tiếp cận vắc xin (COVAX Facility), và đảm bảo phân phối vắc xin trên toàn cầu.
Bên cạnh các giải pháp y tế, các nước cũng cần tập trung xây dựng, thiết kế và triển khai các chính sách kinh tế phù hợp với từng giai đoạn của đại dịch. Tại những nơi mà nguy cơ lây nhiễm vẫn ở mức độ cao, cần hạn chế các hoạt động tiếp xúc trực tiếp, trong khi vẫn tiếp tục các biện pháp hỗ trợ duy trì sinh kế và đời sống cho người dân, bao gồm cả việc trợ cấp cho những lao động bị thay thế và các công ty bị thua lỗ nhưng vẫn có tiềm năng phục hồi, phát triển. Tại những nơi có mức độ lây nhiễm thấp và các hoạt động đã bắt đầu được bình thường hóa, các giải pháp hỗ trợ có thể được giảm một cách từ từ theo thời gian. Hơn nữa, tại các quốc gia này, các gói kích thích có quy mô và phạm vi rộng hơn cần được triển khai để hỗ trợ quá trình phục hồi khi cần thiết. Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm: đầu tư cho giáo dục để khắc phục các vấn đề đang tích tụ liên quan đến nguồn nhân lực; đầu tư cho số hóa nhằm thúc đẩy tăng năng suất lao động và đầu tư xanh để tăng cường sử dụng các loại năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng.
Cùng với đó, các chính sách giải quyết tình trạng bất bình đẳng cũng có vai trò quan trọng. Những nỗ lực này có thể được hỗ trợ thông qua đầu tư cho các chương trình đào tạo lại cho các người lao động bị mất việc làm, nhằm tăng khả năng tái tuyển dụng. Đồng thời, các chính sách trợ cấp xã hội cũng cần được tăng cường khi cần thiết (ví dụ: hỗ trợ tiền mặt có điều kiện và miễn phí dịch vụ y tế cho hộ gia đình thu nhập thấp), mở rộng bảo hiểm xã hội (nới lỏng các điều kiện được nhận trợ cấp thất nghiệp, mở rộng phạm vi bảo hiểm)…
Khác biệt chính sách giữa các nền kinh tế
Dư địa chính sách để đạt được các mục tiêu trên có sự khác biệt giữa các quốc gia. Tại các nền kinh tế phát triển, chi phí đi vay tiếp tục ở mức cực thấp và có thể được tận dụng để cung cấp các hỗ trợ tài chính cần thiết nhằm đảm bảo phục hồi bền vững. Hơn nữa, với kỳ vọng lạm phát được neo giữ tốt cùng áp lực lạm phát giảm, chính sách tiền tệ cần được duy trì thuận lợi cho đến khi quá trình phục hồi bắt đầu vững chắc. Các chính sách như vậy cũng sẽ có tác động lan tỏa tích cực đối với các nền kinh tế bị hạn chế nhiều hơn và giảm khả năng rối loạn do việc thay đổi bắt nguồn từ các lập trường chính sách khác nhau tại các quốc gia trong giai đoạn phục hồi.
Theo IMF, các nền kinh tế thị trường mới nổi nên duy trì các chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ nếu không có rủi ro về nợ và kỳ vọng lạm phát được neo tốt. Tại các quốc gia mà ngân hàng trung ương tiếp tục triển khai các chương trình mua tài sản, các mục tiêu cần được truyền thông một cách rõ ràng, minh bạch — đặc biệt là nhất quán với nhiệm vụ ổn định giá cả. Ngoài các cân nhắc về dư địa chính sách, các chiến lược về kinh tế vĩ mô và ổn định tài chính — bao gồm các chính sách tỷ giá hối đoái — sẽ khác nhau tùy theo cấu trúc của từng nền kinh tế và các cú sốc mà họ phải đối mặt trong quá trình phục hồi.
Các nước đang phát triển có thu nhập thấp có ít dư địa chính sách hơn, và nhiều quốc gia nhóm này rơi vào cuộc khủng hoảng với tình trạng nợ vốn đã cao và được cho là sẽ tăng hơn nữa trong suốt giai đoạn dịch bệnh. Các hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế thông qua các khoản tài trợ, cho vay ưu đãi và giảm nợ sẽ cần thiết để đảm bảo những quốc gia này không bị nhấn chìm bởi khủng hoảng chi phí cùng tình trạng đói nghèo gia tăng.
Một số quốc gia có thể không tránh khỏi việc cơ cấu lại nợ. Trong khi hỗ trợ thanh khoản tạm thời có thể giúp giảm bớt hạn chế của thiếu dư địa chính sách, đối với một số nước, điều này có thể không đủ trong trường hợp nợ công không bền vững. Trong hoàn cảnh đó, các quốc gia đủ điều kiện cần làm việc với các chủ nợ để cơ cấu lại nợ của họ theo Khuôn khổ chung mới đã được G20 chấp thuận. Nói chung, cải thiện cấu trúc nợ quốc tế để hỗ trợ cơ cấu lại nợ một cách trật tự sẽ không chỉ mang lại lợi ích chỉ cho các nước này mà còn cho toàn bộ hệ thống.
Tăng trưởng bền vững sau đại dịch
Một khi cuộc khủng hoảng kết thúc, các nhà hoạch định chính sách phải ưu tiên các nỗ lực để giải quyết các hậu quả có thể tồn tại lâu dài mà nó để lại — một số trong số đó là sự gia tăng các xu hướng tồn tại từ trước — bao gồm năng suất tăng trưởng chậm, bất bình đẳng gia tăng, số lượng tuyệt đối người nghèo đói cao hơn, nợ tăng cao và kéo lùi tích lũy nguồn nhân lực.
Việc thúc đẩy đầu tư công một cách đồng bộ bởi các nền kinh tế lớn nhất có dư địa tài khóa có thể nâng cao hiệu quả của các hành động riêng lẻ và tăng cường tác động lan tỏa xuyên biên giới thông qua các liên kết thương mại. Chú trọng vào cơ sở hạ tầng xanh và số hóa để tăng năng suất, đầu tư đồng loạt của các quốc gia sẽ thúc đẩy tăng sản lượng toàn cầu trong trung hạn nhiều hơn đáng kể so với việc các quốc gia chi tiêu cùng một số tiền một cách đơn lẻ.
Ngoài việc giải quyết các vấn đề phát sinh trực tiếp từ đại dịch, các quốc gia cũng nên hợp tác chặt chẽ để tăng cường các nỗ lực giảm thiểu biến đổi khí hậu. Hơn thế nữa, hợp tác đa phương chặt chẽ hơn sẽ là cần thiết để giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản trong căng thẳng thương mại và công nghệ cũng như những lỗ hổng trong hệ thống thương mại đa phương.
MHN (theo IMF)